Bộ 25 Đề thi giữa Kì 2 Ngữ Văn 6 - Bộ sách Cánh Diều (Có đáp án)

Đọc đoạn trích sau:

SỰ TÍCH HỒ BA BỂ

Ngày xửa, ở xã Nam Mẫu thuộc tỉnh Bắc Kạn có phong tục mở hội cầu Phật vào dịp đầu năm. Dân làng ăn mặc đẹp đẽ, nô nức lên chùa thắp hương, khấn vái, mong được nhiều điều may mắn.

Một hôm, bỗng có một bà lão ăn xin từ đâu tới. Trông bà già thật đáng sợ. Thân hình bà gầy gò, lở loét, quẩn áo bẩn thỉu bốc mùi hôi thối. Vừa đi bà vừa thều thào xin ăn: “Tôi đói quá! Mong các ông các bà làm phúc!”. Mọi người sợ hãi, xua đuổi bà ra khỏi đám đông. Bà lão lê bước tới ngã ba thì gặp hai mẹ con cậu bé đi chợ về. Thấy bà lão ăn xin tội nghiệp, người mẹ đưa bà về nhà, lấy cơm cho ăn rồi mời nghỉ lại qua đêm.

Đến khuya, hai mẹ con nhìn ra chỗ bà già nằm thì thấy sáng rực lên. Một con giao long khổng lồ đầu gác lên xà nhà, đuôi thò xuống đất đang cuộn mình nơi góc nhà. Hai mẹ con kinh hãi rụng rời, đành nhắm mắt, nín thở, nằm im phó mặc cho số phận.

Sáng ra, họ chẳng thấy con giao long đâu cả. Trên chõng, vẫn là bà cụ ăn mày ốm yếu, lở loét. Bà cụ đang chuẩn bị đi, vẫy người mẹ lại gần, bà bảo rằng vùng này sắp có lụt lớn và đưa cho một gói tro bếp dặn đem rắc quanh nhà. Nghe vậy, người mẹ lo lắng hỏi làm thế nào để cứu người bị nạn. Bà cụ nhặt hạt thóc, cắn vỡ ra rồi đưa hai mảnh vỏ trấu và dặn dùng nó để làm việc thiện. Vụt một cái, bà cụ biến mất. Hai mẹ con bàng hoàng khôn xiết. Người mẹ vội mang chuyện kể lại cho dân làng nghe nhưng chẳng ai tin cả.

Quả nhiên, tối hôm đó, lúc mọi người đang lễ bái thì một cột nước dưới đất phụt mạnh lên. Nước phun đến đâu, đất lở đến đấy. Dân làng kinh hoàng, chen nhau chạy thoát thân. Bỗng một tiếng ầm rung chuyển mặt đất, nhà cửa và muôn vật trong phút chốc chìm sâu trong biển nước.

Riêng ngôi nhà nhỏ của hai mẹ con tốt bụng vẫn khô ráo, nguyên vẹn và nước ngập tới đâu là nền nhà lại nâng lên tới đó. Người mẹ xót xa trước thảm cảnh, sực nhớ lời bà lão dặn, liền thả hai mảnh vỏ trấu xuống nước. Kì lạ thay, chúng biến thành hai chiếc thuyền độc mộc. Thế là mặc gió lớn, mưa to, hai mẹ con ra sức cứu vớt người bị nạn. Khi nước rút, chỗ đất bị sụp xuống biến thành hồ Ba Bể, còn nền nhà của hai mẹ con thành chiếc gò nổi giữa hổ, nay được người dân gọi là gò Bà Goá. Trên núi, hai mẹ con dựng lên một gian nhà nhỏ sinh sống. Nơi này, về sau trở thành một ngôi làng đông đúc, và ngày nay vẫn có tên là làng Năm Mẫu. Cả thung lũng bị nước tràn ngập thì hoá thành ba cái hồ rộng lớn, mênh mông như bể, nên người ta gọi là Hồ Ba Bể. Nước ở ba hồ lưu thông nhau, nhưng ghe thuyền không thể đi được từ hồ này sang hồ kia, vì có các đập đá lớn ngăn trở. Hồ Ba Bể rộng bát ngát, nước trong xanh như ngọc bích, nổi bật giữa núi rừng hùng vĩ của miền thượng du Bắc Việt.

(Trích Truyện dân gian Việt Nam, Hồng Hà (biên soạn), NXB Kim Đồng, 2019)

docx 104 trang YếnNT 31/01/2026 4670
Bạn đang xem 30 trang mẫu của tài liệu "Bộ 25 Đề thi giữa Kì 2 Ngữ Văn 6 - Bộ sách Cánh Diều (Có đáp án)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

Tóm tắt nội dung tài liệu: Bộ 25 Đề thi giữa Kì 2 Ngữ Văn 6 - Bộ sách Cánh Diều (Có đáp án)

Bộ 25 Đề thi giữa Kì 2 Ngữ Văn 6 - Bộ sách Cánh Diều (Có đáp án)
 Bộ 25 Đề thi giữa Kì 2 Ngữ Văn 6 - Bộ sách Cánh Diều (Có đáp án) - DeThiVan.com
 DeThiVan.com Bộ 25 Đề thi giữa Kì 2 Ngữ Văn 6 - Bộ sách Cánh Diều (Có đáp án) - DeThiVan.com
 ĐỀ SỐ 1
 ĐỀ KIỂM TRA GIỮA HỌC KÌ II
 TRƯỜNG THCS GIA QUẤT Môn: Ngữ văn 6 
 Thời gian làm bài: 90 phút, không kể thời gian giao đề
I. ĐỌC HIỂU (6.0 điểm)
Đọc đoạn trích sau:
 SỰ TÍCH HỒ BA BỂ
Ngày xửa, ở xã Nam Mẫu thuộc tỉnh Bắc Kạn có phong tục mở hội cầu Phật vào dịp đầu năm. Dân làng 
ăn mặc đẹp đẽ, nô nức lên chùa thắp hương, khấn vái, mong được nhiều điều may mắn.
Một hôm, bỗng có một bà lão ăn xin từ đâu tới. Trông bà già thật đáng sợ. Thân hình bà gầy gò, lở loét, 
quẩn áo bẩn thỉu bốc mùi hôi thối. Vừa đi bà vừa thều thào xin ăn: “Tôi đói quá! Mong các ông các bà 
làm phúc!”. Mọi người sợ hãi, xua đuổi bà ra khỏi đám đông. Bà lão lê bước tới ngã ba thì gặp hai mẹ 
con cậu bé đi chợ về. Thấy bà lão ăn xin tội nghiệp, người mẹ đưa bà về nhà, lấy cơm cho ăn rồi mời 
nghỉ lại qua đêm.
Đến khuya, hai mẹ con nhìn ra chỗ bà già nằm thì thấy sáng rực lên. Một con giao long khổng lồ đầu gác 
lên xà nhà, đuôi thò xuống đất đang cuộn mình nơi góc nhà. Hai mẹ con kinh hãi rụng rời, đành nhắm 
mắt, nín thở, nằm im phó mặc cho số phận.
Sáng ra, họ chẳng thấy con giao long đâu cả. Trên chõng, vẫn là bà cụ ăn mày ốm yếu, lở loét. Bà cụ 
đang chuẩn bị đi, vẫy người mẹ lại gần, bà bảo rằng vùng này sắp có lụt lớn và đưa cho một gói tro bếp 
dặn đem rắc quanh nhà. Nghe vậy, người mẹ lo lắng hỏi làm thế nào để cứu người bị nạn. Bà cụ nhặt hạt 
thóc, cắn vỡ ra rồi đưa hai mảnh vỏ trấu và dặn dùng nó để làm việc thiện. Vụt một cái, bà cụ biến mất. 
Hai mẹ con bàng hoàng khôn xiết. Người mẹ vội mang chuyện kể lại cho dân làng nghe nhưng chẳng ai 
tin cả.
Quả nhiên, tối hôm đó, lúc mọi người đang lễ bái thì một cột nước dưới đất phụt mạnh lên. Nước phun 
đến đâu, đất lở đến đấy. Dân làng kinh hoàng, chen nhau chạy thoát thân. Bỗng một tiếng ầm rung 
chuyển mặt đất, nhà cửa và muôn vật trong phút chốc chìm sâu trong biển nước.
Riêng ngôi nhà nhỏ của hai mẹ con tốt bụng vẫn khô ráo, nguyên vẹn và nước ngập tới đâu là nền nhà lại 
nâng lên tới đó. Người mẹ xót xa trước thảm cảnh, sực nhớ lời bà lão dặn, liền thả hai mảnh vỏ trấu 
xuống nước. Kì lạ thay, chúng biến thành hai chiếc thuyền độc mộc. Thế là mặc gió lớn, mưa to, hai mẹ 
con ra sức cứu vớt người bị nạn. Khi nước rút, chỗ đất bị sụp xuống biến thành hồ Ba Bể, còn nền nhà 
của hai mẹ con thành chiếc gò nổi giữa hổ, nay được người dân gọi là gò Bà Goá. Trên núi, hai mẹ con 
dựng lên một gian nhà nhỏ sinh sống. Nơi này, về sau trở thành một ngôi làng đông đúc, và ngày nay vẫn 
có tên là làng Năm Mẫu. Cả thung lũng bị nước tràn ngập thì hoá thành ba cái hồ rộng lớn, mênh mông 
như bể, nên người ta gọi là Hồ Ba Bể. Nước ở ba hồ lưu thông nhau, nhưng ghe thuyền không thể đi được 
từ hồ này sang hồ kia, vì có các đập đá lớn ngăn trở. Hồ Ba Bể rộng bát ngát, nước trong xanh như ngọc 
bích, nổi bật giữa núi rừng hùng vĩ của miền thượng du Bắc Việt.
 (Trích Truyện dân gian Việt Nam, Hồng Hà (biên soạn), NXB Kim Đồng, 2019)
Trả lời các câu hỏi bằng cách ghi ra giấy kiểm tra chữ cái đứng trước phương án trả lời đúng.
Câu 1. Văn bản trên thuộc thể loại nào?
 DeThiVan.com Bộ 25 Đề thi giữa Kì 2 Ngữ Văn 6 - Bộ sách Cánh Diều (Có đáp án) - DeThiVan.com
A. Truyện đồng thoại. B. Truyện cổ tích.
C. Truyện ngắn. D. Truyện truyền thuyết.
Câu 2. Ngôi kể được sử dụng trong văn bản trên là gì?
A. Ngôi kể thứ nhất. B. Ngôi kể thứ ba.
C. Ngôi kể thứ hai. D. Ngôi kể thứ nhất và thứ ba.
Câu 3. Từ “kinh hoàng” trong câu:“Dân làng kinh hoàng, chen nhau chạy thoát thân.” có nghĩa là gì?
A. Cảm giác sợ hãi tột độ, hoảng loạn trước một sự việc đáng sợ.
B. Cảm giác buồn bã, đau khổ khi gặp chuyện không vui.
C. Cảm giác bất ngờ, ngạc nhiên trước một điều mới lạ.
D. Cảm giác phấn khích, vui mừng khi gặp điều thú vị.
Câu 4. Biện pháp tu từ nào được sử dụng trong câu văn:“Hồ Ba Bể rộng bát ngát, nước trong xanh như 
ngọc bích, nổi bật giữa núi rừng hùng vĩ của miền thượng du Bắc Việt”?
A. Hoán dụ. B. Ẩn dụ. C. So sánh. D. Nhân hóa.
Câu 5. Nhân vật chính trong văn bản trên là ai?
A. Hồ Ba Bể. B. Hai mẹ con bà góa.
C. Bà lão. D. Người dân.
Câu 6. Câu văn:“Tôi đói quá!Mong các ông các bà làm phúc” là lời của ai?
A. Lời của người kể chuyện. B. Lời của bà lão.
C. Lời của dân làng. D. Lời của người con.
Câu 7. Hành động của người mẹ: “Thấy bà lão ăn xin tội nghiệp, người mẹ đưa bà về nhà, lấy cơm cho 
ăn rồi mời nghỉ lại qua đêm” cho thấy điều gì?
A. Hai mẹ con bà góa không sợ lây bệnh cùi hủi.
B. Hai mẹ con bà góa biết bà lão ăn xin không phải là người thường.
C. Hai mẹ con bà góa lo sợ bà lão ăn xin mang lại nguy hiểm cho mình.
D. Hai mẹ con bà góa có lòng nhân hậu, thương người như thể thương thân.
Câu 8. Chủ đề của văn bản là gì?
A. Giải thích nguồn gốc xuất thân của hai mẹ con.
B. Ca ngợi tinh thần tương thân, tương ái.
C. Thể hiện ước mơ chinh phục thiên nhiên của con người.
D. Phản ánh cuộc đấu tranh chống giặc ngoại xâm.
Thực hiện yêu cầu/Trả lời câu hỏi:
Câu 9 (2 điểm). Chỉ ra và nêu tác dụng của chi tiết kì ảo trong câu văn:“Người mẹ xót xa trước thảm 
cảnh, sực nhớ lời bà lão dặn, liền thả hai mảnh vỏ trấu xuống nước. Kì lạ thay, chúng biến thành hai chiếc 
thuyền độc mộc”.
Câu 10 (2 điểm). Qua câu chuyện trên, em rút ra được bài học ý nghĩa gì cho bản thân? (Nêu 02 bài học).
II. VIẾT (4.0 điểm)
Kho tàng truyện dân gian luôn mang đến cho chúng ta những câu chuyện đầy thú vị, đậm chất nhân văn. 
Em hãy đóng vai một nhân vật trong truyện cổ tích mà em yêu thích để kể lại truyện.
 DeThiVan.com Bộ 25 Đề thi giữa Kì 2 Ngữ Văn 6 - Bộ sách Cánh Diều (Có đáp án) - DeThiVan.com
 ĐÁP ÁN
I. ĐỌC HIỂU (6.0 điểm)
Câu 1 2 3 4 5 6 7 8
Đáp án D B A C B B D B
Thực hiện yêu cầu/Trả lời câu hỏi:
Câu 9 (2 điểm). 
Chi tiết kì ảo:
- “Hai mảnh vỏ trấu biến thành hai chiếc thuyền độc mộc.”
Tác dụng:
- Tạo yếu tố kì ảo, hấp dẫn, đặc trưng của truyện truyền thuyết.
- Thể hiện niềm tin dân gian: người sống nhân hậu sẽ được giúp đỡ, ban phép màu.
- Làm nổi bật lòng nhân ái, đức hi sinh của hai mẹ con khi dùng thuyền để cứu người
Câu 10 (2 điểm).
Qua câu chuyện “Sự tích Hồ Ba Bể”, em có thể rút ra hai bài học ý nghĩa sau:
- Bài học về lòng nhân ái, yêu thương con người
 Cần biết quan tâm, giúp đỡ những người gặp khó khăn, hoạn nạn; sống nhân hậu sẽ nhận được điều tốt 
đẹp.
- Bài học về cách đối xử với người khác
Không nên đánh giá con người qua vẻ bề ngoài; hãy cư xử chân thành, bao dung và giàu lòng vị tha.
II. VIẾT (4.0 điểm)
Em xin đóng vai nhân vật Tấm trong truyện cổ tích “Tấm Cám” để kể lại câu chuyện:
 Tôi là Tấm, một cô gái mồ côi cha mẹ từ nhỏ. Tôi sống cùng dì ghẻ và em cùng cha khác mẹ là 
Cám. Hằng ngày, tôi phải làm lụng vất vả, còn Cám thì được nuông chiều. Có lần, hai chị em cùng đi bắt 
tép, tôi chăm chỉ nên được đầy giỏ, còn Cám thì lười biếng. Thấy vậy, Cám lừa tôi xuống ao tắm rồi trút 
hết tép trong giỏ của tôi sang giỏ mình.
Tôi ngồi khóc nức nở thì ông Bụt hiện lên, an ủi và giúp đỡ tôi. Nhờ lời Bụt dặn, tôi nuôi được một con 
cá bống làm bạn. Nhưng dì ghẻ độc ác đã lén bắt cá bống ăn thịt. Tôi đau khổ vô cùng, lại nhờ Bụt giúp, 
chôn xương cá bống xuống đất.
Đến ngày hội, mẹ con Cám tìm cách không cho tôi đi. Một lần nữa, Bụt giúp tôi có quần áo đẹp và đôi 
giày xinh xắn. Nhờ đánh rơi chiếc giày ấy, tôi được nhà vua tìm thấy và trở thành hoàng hậu.
Tưởng rằng từ đó tôi sẽ được hạnh phúc, nhưng mẹ con Cám vẫn không buông tha. Tôi bị hãm hại nhiều 
lần, hóa thân thành chim vàng anh, cây xoan đào, khung cửi rồi quả thị. Cuối cùng, tôi được trở lại làm 
người và đoàn tụ với nhà vua.
Câu chuyện của tôi là minh chứng rằng: người hiền lành, chăm chỉ và nhân hậu rồi sẽ được hạnh 
phúc, còn cái ác thì không bao giờ chiến thắng mãi mãi.
 DeThiVan.com Bộ 25 Đề thi giữa Kì 2 Ngữ Văn 6 - Bộ sách Cánh Diều (Có đáp án) - DeThiVan.com
 ĐỀ SỐ 2
 UBND QUẬN LONG BIÊN LIÊN ĐỀ KIỂM TRA GIỮA HỌC KÌ II 
 TRƯỜNG THCS ÁI MỘ - MÔN: NGỮ VĂN 6
 LÝ THƯỜNG KIỆT Thời gian làm bài: 90 phút 
I. ĐỌC - HIỂU (6.0 điểm)
Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu bên dưới:
 CON RỒNG CHÁU TIÊN
Ngày xưa, ở miền đất Lạc Việt, cứ như bây giờ là Bắc Bộ nước ta, có một vị thần thuộc nòi rồng, con trai 
thần Long Nữ, tên là Lạc Long Quân. Thần mình rồng, thường ở dưới nước, thỉnh thoảng lên sống trên 
cạn, sức khoẻ vô địch, có nhiều phép lạ. Thần giúp dân diệt trừ Ngư Tinh, Hồ Tinh, Mộc Tinh – những 
loài yêu quái bấy lâu làm hại dân lành. Thần dạy dân cách trồng trọt, chăn nuôi và cách ăn ở. Xong việc, 
thần thường về thuỷ cung với mẹ, khi có việc cần, thần mới hiện lên.
Bấy giờ, ở vùng núi cao phương Bắc, có nàng Âu Cơ thuộc dòng họ Thần Nông, xinh đẹp tuyệt trần. 
Nghe tiếng vùng đất Lạc có nhiều hoa thơm cỏ lạ, nàng bèn tìm đến thăm. Âu Cơ và Lạc Long Quân gặp 
nhau, đem lòng yêu nhau rồi trở thành vợ chồng, cùng chung sống trên cạn ở cung điện Long Trang.
Ít lâu sau, Âu Cơ có mang. Đến kì sinh, chuyện thật lạ, nàng sinh ra một cái bọc trăm trứng; trăm trứng 
nở ra một trăm người con hồng hào, đẹp đẽ lạ thường. Đàn con không cần bú mớm mà tự lớn lên như 
thổi, mặt mũi khôi ngô, khoẻ mạnh như thần.
Thế rồi một hôm, Lạc Long Quân vốn quen ở nước cảm thấy mình không thể sống mãi trên cạn được, 
đành từ biệt Âu Cơ và đàn con để trở về thuỷ cung. Âu Cơ ở lại một mình nuôi con. Nàng rất buồn tủi, 
chờ mong tháng ngày. Cuối cùng, nàng gọi chồng lên và than thở:
- Sao chàng bỏ thiếp mà đi, không cùng thiếp nuôi các con? Lạc Long Quân nói:
- Ta vốn nòi rồng ở miền nước thẳm, nàng là dòng tiên ở chốn non cao. Kẻ ở cạn, người ở nước, tính 
tình, tập quán khác nhau, khó mà ăn ở cùng nhau một nơi lâu dài được. Nay ta đưa năm mươi con xuống 
biển, nàng đưa năm mươi con lên núi, chia nhau cai quản các phương. Kẻ miền núi, người miền biển, khi 
có việc gì thì giúp đỡ lẫn nhau, đừng quên lời hẹn. Âu Cơ và trăm con nghe theo, rồi chia tay nhau lên 
đường. Người con trưởng theo Âu Cơ được tôn lên làm vua, lấy hiệu là Hùng Vương, đóng đô ở đất 
Phong Châu, đặt tên nước là Văn Lang. Triều đình có tướng văn, tướng võ; con trai vua gọi là lang, con 
gái vua gọi là mị nương khi cha chết thì ngôi được truyền cho con trưởng, mười mấy đời truyền nối ngôi 
vua đều lấy hiệu là Hùng Vương, không hề thay đổi.
Cũng bởi sự tích này mà về sau, người Việt Nam ta – con cháu vua Hùng – khi nhắc đến nguồn gốc của 
mình, thường xưng là con Rồng cháu Tiên.”
 (Theo Nguyễn Đổng Chi, Ngữ văn 6, tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2017)
Ghi vào bài làm chữ cái đứng trước câu trả lời đúng nhất (từ câu 1 đến câu 8) 
Câu 1. Văn bản trên thuộc thể loại truyện nào?
A. Cổ tích B. Truyền thuyết
C. Truyện cười D. Thần thoại
Câu 2. Ngôi kể nào được sử dụng trong văn bản trên?
A. Ngôi thứ nhất B. Ngôi thứ hai
C. Ngôi thứ ba D. Kết hợp ngôi thứ nhất và ngôi thứ ba
 DeThiVan.com Bộ 25 Đề thi giữa Kì 2 Ngữ Văn 6 - Bộ sách Cánh Diều (Có đáp án) - DeThiVan.com
Câu 3. Những yếu tố lịch sử nào dưới đây xuất hiện trong truyện “Con Rồng cháu Tiên”?
A. Miền đất Lạc Việt, Âu Cơ sinh một trăm người con, Lạc Long Quân thân mình rồng
B. Miền đất Lạc Việt, thời đại Vua Hùng, nước Văn Lang, đóng đô ở đất Phong Châu
C. Trăm người con nở ra từ bọc trăm trứng, Lạc Long Quân về thủy cung
D. Thời đại Vua Hùng, đóng đô ở Phong Châu, Âu Cơ thuộc dòng thần Nông
Câu 4. Dòng nào sau đây nêu không đúng ý nghĩa của truyện “Con Rồng cháu Tiên”?
A. Giải thích, suy tôn nguồn gốc giống nòi thần tiên của người Việt
B. Thể hiện ý nguyện đoàn kết, thống nhất cộng đồng của người Việt cổ
C. Khẳng định sức mạnh của tuổi trẻ và tinh thần đấu tranh chống giặc ngoại xâm
D. Dựng lại bức tranh về đất nước Văn Lang ở buổi đầu dựng nước
Câu 5. Có bao nhiêu cụm tính từ trong câu: “Nàng rất buồn tủi, chờ mong tháng ngày.”?
A. Một cụm tính từ B. Hai cụm tính từ
C. Ba cụm tính từ D. Bốn cụm tính từ
Câu 6. Biện pháp tu từ nào được sử dụng trong câu: “Đàn con không cần bú mớm mà tự lớn nhanh 
như thổi, mặt mũi khôi ngô, khoẻ mạnh như thần.”?
A. Nhân hóa B. Điệp ngữ C. Ẩn dụ D. So sánh
Câu 7. Tập hợp nào dưới đây chỉ gồm các từ ghép?
A. Hồng hào, đẹp đẽ, than thở, mặt mũi
B. Khỏe mạnh, tập quán, khôi ngô, mặt mũi
C. Mặt mũi, đẹp đẽ, tập quán, lâu dài
D. Khôi ngô, hồng hào, khỏe mạnh, thủy cung
Câu 8. Dấu chấm phẩy trong câu: “Triều đình có tướng văn, tướng võ; con trai vua gọi là lang, con 
gái vua gọi là mị nương; khi cha chết thì ngôi được truyền cho con trưởng, mười mấy đời truyền nối 
ngôi vua đều lấy hiệu là Hùng Vương, không hề thay đổi.” có công dụng gì?
A. Ngăn cách ranh giới giữa các vế của một câu ghép.
B. Ngăn cách giữa thành phần phụ và thành phần chính của câu.
C. Đánh dấu lời nói trực tiếp của nhân vật.
D. Đánh dấu phần chú thích trong câu.
Thực hiện theo yêu cầu:
Câu 9 (2.0 điểm). Chỉ ra chi tiết tưởng tượng kì ảo thể hiện sự sinh nở đầy kì lạ của nàng Âu Cơ trong 
văn bản trên và nêu ý nghĩa của chi tiết kì ảo đó.
Câu 10 (2.0 điểm).
Từ văn bản “Con rồng cháu tiên”, em rút ra được những bài học ý nghĩa nào?
II. PHẦN VIẾT (4.0 điểm)
Nhập vai nhân vật kể lại một truyện cổ tích mà em yêu thích bằng một bài văn (khoảng 2 trang giấy thi).
 DeThiVan.com Bộ 25 Đề thi giữa Kì 2 Ngữ Văn 6 - Bộ sách Cánh Diều (Có đáp án) - DeThiVan.com
 ĐÁP ÁN
I. ĐỌC HIỂU (6.0 điểm)
Câu 1 2 3 4 5 6 7 8
Đáp án B C B C A D A A
Thực hiện yêu cầu/Trả lời câu hỏi:
Câu 9 (2 điểm). 
Chi tiết tưởng tượng kì ảo:
- Nàng Âu Cơ sinh ra một cái bọc trăm trứng, từ đó nở ra một trăm người con hồng hào, đẹp đẽ, lớn 
nhanh như thổi.
Ý nghĩa của chi tiết kì ảo:
- Giải thích nguồn gốc chung của dân tộc Việt Nam, cho thấy người Việt có cùng một cội nguồn.
- Thể hiện niềm tự hào, tôn vinh giống nòi, suy tôn dân tộc Việt có nguồn gốc cao quý, thiêng liêng.
- Gửi gắm ý nghĩa về sự đoàn kết, gắn bó ruột thịt của cộng đồng người Việt: dù ở miền núi hay miền 
biển vẫn cùng chung dòng máu “con Rồng cháu Tiên”.
Câu 10 (2 điểm).
Từ văn bản “Con Rồng cháu Tiên”, em có thể rút ra những bài học ý nghĩa sau:
- Biết trân trọng và tự hào về nguồn gốc, cội nguồn dân tộc, nhớ ơn tổ tiên – những người đã 
dựng nước.
- Đề cao tinh thần đoàn kết, gắn bó cộng đồng: dù sống ở miền núi hay miền biển, tất cả người 
Việt đều là anh em một nhà.
- Sống nhân ái, yêu thương, giúp đỡ lẫn nhau, như lời dặn “khi có việc thì giúp đỡ lẫn nhau”.
- Có ý thức giữ gìn và phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc trong học tập, sinh hoạt và 
cuộc sống hằng ngày.
 Đây là những bài học vẫn còn nguyên giá trị đối với mỗi người Việt Nam hôm nay.
II. VIẾT (4.0 điểm)
Dưới đây là bài văn nhập vai nhân vật Thạch Sanh kể lại truyện cổ tích Thạch Sanh (viết theo ngôi 
thứ nhất, độ dài phù hợp bài làm 2 trang giấy thi):
 Tôi là Thạch Sanh, con trai của một gia đình nông dân nghèo sống dưới gốc đa đầu làng. Cha mẹ 
tôi mất sớm, để lại tôi một mình lủi thủi sớm hôm với chiếc rìu đá và túp lều tranh đơn sơ. Cuộc sống tuy 
nghèo khó nhưng tôi luôn tin rằng, chỉ cần sống ngay thẳng, chăm chỉ thì trời đất sẽ không phụ lòng 
người.
Một ngày nọ, có một người tên là Lý Thông đến kết nghĩa anh em với tôi. Nghĩ rằng mình có thêm người 
thân, tôi thật lòng coi anh ta như anh ruột. Nhưng nào ngờ, chính từ đây, tai họa và thử thách bắt đầu ập 
đến cuộc đời tôi.
Khi trong vùng xuất hiện Chằn Tinh hung ác, Lý Thông đã lừa tôi đi canh miếu để thế mạng cho hắn. 
Đêm ấy, trước con quái vật ghê gớm, tôi cũng sợ hãi, nhưng nghĩ đến dân lành vô tội, tôi dốc hết sức 
mình chiến đấu. Cuối cùng, tôi chém chết Chằn Tinh, trừ họa cho dân. Thế nhưng, Lý Thông lại cướp 
công, đuổi tôi đi, còn mình thì hưởng vinh hoa.
Chưa dừng lại ở đó, tôi lại phải đối mặt với Đại Bàng – kẻ đã bắt cóc công chúa. Một lần nữa, tôi không 
ngần ngại xông pha cứu người. Trong hang sâu tối tăm, dù bị vùi lấp, tôi vẫn kiên cường chiến đấu, cứu 
 DeThiVan.com Bộ 25 Đề thi giữa Kì 2 Ngữ Văn 6 - Bộ sách Cánh Diều (Có đáp án) - DeThiVan.com
được công chúa trở về. Nhưng Lý Thông lại tiếp tục phản bội, bỏ mặc tôi trong hang tối.
Những ngày tháng trong lòng đất tối tăm tưởng chừng đã chôn vùi cuộc đời tôi. Nhưng nhờ tấm lòng 
ngay thẳng và sự giúp đỡ của những người bạn tốt, tôi thoát nạn. Chính trong gian khổ, tôi càng thấm thía 
rằng: cái thiện có thể bị vùi lấp nhất thời, nhưng không bao giờ mất đi.
Khi sự thật được phơi bày, tôi được minh oan. Tiếng đàn thần của tôi vang lên, không chỉ nói thay nỗi 
oan khuất mà còn làm thức tỉnh lương tri con người. Cuối cùng, tôi được nhà vua gả công chúa và truyền 
ngôi báu. Từ một chàng tiều phu nghèo, tôi trở thành vua, nhưng tôi chưa bao giờ quên những ngày tháng 
cơ cực thuở ban đầu.
Nhìn lại chặng đường đã qua, tôi hiểu rằng: sống hiền lành, dũng cảm và nhân hậu chính là sức mạnh 
lớn nhất của con người. Cái ác có thể gian xảo, nhưng không thể chiến thắng được lòng tốt. Tôi luôn tự 
nhủ phải trị vì đất nước bằng sự công bằng và yêu thương, để không phụ lòng dân và cũng không phụ 
những thử thách mà cuộc đời đã dành cho tôi.
 DeThiVan.com Bộ 25 Đề thi giữa Kì 2 Ngữ Văn 6 - Bộ sách Cánh Diều (Có đáp án) - DeThiVan.com
 ĐỀ SỐ 3
 ĐÈ KIỂM TRA GIỮA HỌC KỲ II 
 UBND QUẬN LONG BIÊN
 MÔN: NGỮ VĂN 6
 TRƯỜNG THCS NGỌC LÂM
 Thời gian: 90 phút
I. ĐỌC HIỂU (6,0 điểm)
Đọc văn bản sau và chọn đáp án đúng bằng cách ghi lại chữ cái đầu dòng của câu trả lời đúng vào 
giấy kiểm tra.
 SỰ TICH HOA CÚC TRẮNG
Chuyện kể rằng ở một ngôi làng nọ có hai mẹ con nghèo sinh song với nhau trong một ngôi nhà nhỏ. 
Người mẹ ngày ngày tần tảo làm việc đế nuôi con, người con tuy còn nhỏ nhưng đã biết yêu thương, có 
hiếu với mẹ.
Cuộc sống của hai mẹ con cứ thế bình lặng trôi qua thì bong đến một ngày người mẹ chợt lâm bệnh nặng. 
Dù đã đi đến chữa trị ở rất nhiều thầy lang giỏi trong làng nhưng tình hĩnh bệnh của người mẹ không hể 
đỡ chút nào, sức khỏe môi ngày một yếu đi.
Nhà nghèo không có tiền chữa trị, nhưng thương mẹ người con vân quyết tâm đi tìm thầy ở các nơi đế 
chữa bệnh cho mẹ. Người con cứ đi từ làng này qua làng khác, vượt bao làng mạc, nủỉ sông, vừa đói vừa 
rách nhưng không hề nản lòng. Rồi em đi qua một ngôi chùa, em đã xin phép trụ trĩ của ngôi chùa cẩu 
phúc cho mẹ em mau chóng qua bệnh đế hai mẹ con lại trở về cuộc sống như xưa. Lòng hiếu thảo của em 
đã động đến trời xanh, Đức Phật cũng phải động lòng trẳc ấn nên ngài đã biến thành một nhà sư và tặng 
cho em một bông hoa có năm cánh, số cảnh hoa tượng trưng cho so năm mà mẹ em sống thêm được.
Em nhìn bông hoa vừa vui sướng vì đã có phép màu cứu được mẹ nhưng cũng không khỏi lo lắng vĩ chỉ 
có năm cánh hoa, tức mẹ em chỉ còn sống được năm năm. Vì vậy sau một hồi suy nghĩ em đã xé nhỏ các 
cánh hoa cho tới khi không còn xẻ nhỏ được nữa, và cũng không còn đếm được bông hoa có bao nhỉêu 
cánh hoa. Nhờ vậy mà người mẹ đã song rất lâu bên đứa con ngoan hiếu thảo của mình.
Bông hoa có vô số cánh hoa biểu tuợng cho sự sống, cho ước mơ trường tồn của con người, cho khát 
vọng chữa lành mọi bệnh tật, sau này người ta gọi đó là hoa Cúc. Sự tích hoa cúc trắng cũng từ đó mà 
ra.
 (Trích “ Truyện cổ tích Việt Nam”, NXB Mĩ thuật 2018).
Câu 1. Phương thức biếu đạt chính của văn bản là gì?
A. Tự sự. B. Biếu cảm. C. Miêu tả. D. Thuyết minh. 
Câu 2. Câu chuyên trong tác phẩm đưọc kế bằng lờỉ của ai?
A. Lời của nhân vật người mẹ. B. Lời của người kế chuyện.
C. Lời của nhân vật người con. D. Lời của nhà sư.
Câu 3. Nhân vật chính trong câu chuyện là ai?
A. Em bé. B. Người mẹ. D. Đức Phật. D. Nhà sư.
Câu 4. Câu văn "Bông hoa có vô số cánh hoa biểu tượng cho sự sống, cho ước mơ trường tồn của 
con người, cho khát vọng chữa lành mọi bệnh tật, sau này người ta gọi đó là hoa Cúc" đã sử dụng 
biện pháp tu từ nào?
A. Nhân hóa - so sánh. B. So sánh - điệp ngữ.
 DeThiVan.com Bộ 25 Đề thi giữa Kì 2 Ngữ Văn 6 - Bộ sách Cánh Diều (Có đáp án) - DeThiVan.com
C. Liệt kê - điệp ngữ. D. Ẩn dụ - nhân hóa.
Câu 5. Vì sao em bé quyết tâm đi tìm thầy lang đế chữa bệnh cho mẹ?
A. Vì em bé thương mẹ và muốn mẹ khỏi bệnh.
B. Vì quyến luyến không muốn xa mẹ.
C. Vì muốn giúp đỡ mẹ.
D. Vì chưa thể sống tự lập.
Câu 6. Điều gì khiến Đửc Phật cảm động khi nghe câu chuyện của em bé?
A. Số phận bất hạnh của người mẹ.
B. Trí tuệ hơn người của em bé.
C. Cảm thương tấm lòng hiếu thảo của em bé.
D. Tình cảnh đáng thương của em bé.
Câu 7. Nhận xét nào sau đây đúng vói truyện Sự tích hoa cúc trắng?
A. Giải thích các hiện tượng thiên nhiên.
B. Ca ngợi lòng hiếu thảo của em bé.
C. Thể hiện sự cảm thương cho số phận người phụ nữ.
D. Ca ngợi tình phụ tử.
Câu 8. Vì sao em bé lại xé nhỏ những cánh hoa cúc trắng?
A. Vì muốn cho bông hoa đẹp hơn. 
B. Vì bông hoa chỉ có năm cánh, 
C. Vì muốn bông hoa có thật nhiều cánh . 
D. Vì em muốn mẹ được sống lâu hơn. 
Câu 9. Em hãy chỉ ra và nêu ý nghĩa của nhân vật thần kì xuất hiện trong văn bản trên. (Viết câu trả lời 
bằng đoạn văn ngắn khoảng 5 câu).
Câu 10. Phẩm chất nào của nhân vật em bé khiến em ấn tượng nhất? Em cần làm gì để rèn luyện phẩm 
chất đó?
II. VIẾT (4,0 điểm)
Học sinh chọn một trong hai đề sau:
Em hãy viết bài văn thuyết minh về một một sự kiện (một sinh hoạt văn hóa).
 DeThiVan.com

File đính kèm:

  • docxbo_25_de_thi_giua_ki_2_ngu_van_6_bo_sach_canh_dieu_co_dap_an.docx