Bộ 6 Đề thi thử tốt nghiệp THPT 2022-2026 môn Văn Đà Nẵng (Có đáp án)

PHẦN I. ĐỌC HIỂU ( 4,0 điểm )

Đọc văn bản sau:

GA TÀU TUỔI THƠ

(Lược đoạn đầu: Tôi rất sợ những buổi chiều thu im ắng, bàng bạc trôi qua cuộc đời mình. Nó gợi nhớ cho tôi về những tháng năm tuổi thơ chiều nào cũng ra ngõ ngóng những chuyến tàu ngược chở nặng niềm mong mỏi […] Khi ấy mẹ tôi bị bệnh nặng, bố gói ghém tất cả gia tài và tình yêu đưa mẹ lên chuyến tàu xuôi xuống Hà Nội chữa bệnh, nhà chỉ còn ba anh em chăm nhau.)

Ở ngõ nhà tôi có một cây bạch đàn to, mỗi hôm ra ngóng bố mẹ tôi lại lấy mảnh trai cứa lên thân cây một vạch. Cho đến buổi chiều hôm ấy anh tôi đếm trên thân cây thấy vừa tròn mười lăm vạch. Chiều ấy khi trời đã tối hẳn, anh tôi đã dắt thằng út em vào nhà, tôi vẫn còn đứng nán lại nhìn một lần nữa phía con đường mòn. Tôi bỗng hét lên sung sướng vì đã nhìn thấy bóng dáng thân quen của bố mẹ đang đi về phía chúng tôi. Buổi chiều muộn ấy là một buổi chiều tràn ngập niềm vui, thằng út em sà vào vòng tay, dụi dụi vào ngực mẹ như nó vẫn còn nhớ mùi hương của sữa. Anh cả vừa hát vừa nhảy chân sáo đi đằng sau. Bố công kênh tôi trên đôi vai đã gầy sọp đi vì vất vả. Tối ấy cả nhà trải chiếu ra giữa sân ngập tràn ánh trăng, mẹ lại hát ru em ngủ, bố kể nốt câu chuyện cổ tích “Cây khế” còn dang dở 15 ngày trước…

Rồi khi em út tôi bị ung nhọt mọc đầy người, bố mẹ lại một lần nữa gồng gánh niềm tin xuôi tàu về Hà Nội. Nhà chỉ còn hai anh em chăm nhau nhưng vẫn không quên chiều chiều lại ra ngõ ngóng. Mấy đứa trẻ con trong xóm chơi bắn bi với tôi bị thua nên ghét tôi lắm, cứ chiều thấy anh em tôi ra ngõ là chúng lại xúm vào trêu rất ác: “Đồ mồ côi! Anh em nhà mồ côi bị bố mẹ bỏ rơi. Ê ồ! Ê ồ!” Tôi vừa gào khóc vừa nhặt đất đá ném lũ trẻ. Anh cả cõng tôi trên lưng đi về phía con đường mòn, chúng tôi cứ đi từ khi mặt trời bắt đầu xuống núi đến khi tôi mỏi mắt cũng không nhìn rõ hướng đi. Lúc ấy tôi khóc khản cả cổ còn anh trai thì luôn miệng dỗ dành:

- Em gái ngoan nào, để anh cõng em đi tìm bố mẹ đi tìm em út nhé. Rồi mai anh đi hái quả đùm đũm chín mọng đỏ cho ăn nhé.

Đấy là lần đầu tiên chúng tôi nhìn thấy ga tàu, hai đứa trẻ con cõng nhau đứng lọt thỏm giữa sân ga im ắng, khách xuống tàu đã về hết tự lúc nào. Anh tôi đứng lặng rất lâu, tôi thấy có vài giọt nước ấm rơi xuống đôi bàn tay đang bá vào cổ anh. Tôi biết là anh đang khóc, nhưng sau đó anh lại xốc tôi lên và cõng quay trở lại con đường mòn khi nãy.

Tôi không thể nhớ nổi có biết bao buổi chiều đã đi qua cuộc đời chúng tôi buồn bàng bạc như thế. Bởi em tôi bệnh rất nặng, phải mấy năm sau em mới thật sự khỏi bệnh. Trong lúc bố mẹ tôi gồng gánh trên đôi vai mình những gian nan, vất vả chạy chữa khắp nơi để cứu lấy sinh mạng em tôi, thì anh trai đã phải lớn lên trước tuổi để che chở, bao bọc thứ niềm tin nhỏ bé trong tôi. Từ tình yêu thương đó tôi lớn lên từng ngày một, tôi hiểu ra rằng những chuyến đi của bố mẹ có ý nghĩa lớn lao như thế nào, tôi cũng hiểu rằng anh cả là một người anh thật tuyệt vời. Lúc bố mẹ vắng nhà anh đã đứng vững, đã làm cái “nóc nhà” để che chở vỗ về và cả tha thứ cho bầy em bé nhỏ của mình.

Cho đến mãi sau này tôi cũng không bao giờ quên những buổi chiều anh trai tôi dắt tôi ra ngõ ngóng người thân trở về. Cây bạch đàn ở ngõ đã bao lần thay vỏ, những vết khắc năm xưa đã không còn nữa nhưng vết khắc tuổi thơ thì vẫn luôn hằn trong tâm trí chúng tôi. Để sau này khi dòng xoáy cuộc đời có cuốn chúng tôi về đâu đi nữa thì những buổi chiều ngang qua cuộc đời sẽ giúp tôi tìm về nguồn cội để biết yêu thương và được yêu thương thật nhiều trong vòng tay ấm áp của gia đình.

(Theo tác giả Vũ Thị Huyền Trang, Ga tàu tuổi thơ, báo Tài hoa trẻ, số 750 ngày 15.02.2012)

Thực hiện các yêu cầu:

Câu 1. Chỉ ra dấu hiệu nhận biết ngôi kể trong văn bản.

Câu 2. Theo văn bản, mỗi hôm ra ngõ ngóng bố mẹ, nhân vật tôi đều có hành động gì?

Câu 3. Nhận xét tình cảm của nhân vật tôi dành cho người thân qua câu: “Trong lúc bố mẹ tôi gồng gánh trên đôi vai mình những gian nan, vất vả chạy chữa khắp nơi để cứu lấy sinh mạng em tôi, thì anh trai đã phải lớn lên trước tuổi để che chở, bao bọc thứ niềm tin nhỏ bé trong tôi.”.

Câu 4. Phân tích tác dụng của biện pháp tu từ trong câu văn sau: “Tối ấy cả nhà trải chiếu ra giữa sân ngập tràn ánh trăng, mẹ lại hát ru em ngủ, bố kể nốt câu chuyện cổ tích “Cây khế” còn dang dở 15 ngày trước…”.

Câu 5. Từ suy tư của nhân vật tôi: Cây bạch đàn ở ngõ đã bao lần thay vỏ, những vết khắc năm xưa đã không còn nữa nhưng vết khắc tuổi thơ thì vẫn luôn hằn trong tâm trí chúng tôi. Anh/ chị nêu suy nghĩ của bản thân về ý nghĩa những kí ức tuổi thơ.

docx 37 trang NgocMinh7752 26/05/2026 50
Bạn đang xem 30 trang mẫu của tài liệu "Bộ 6 Đề thi thử tốt nghiệp THPT 2022-2026 môn Văn Đà Nẵng (Có đáp án)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

Tóm tắt nội dung tài liệu: Bộ 6 Đề thi thử tốt nghiệp THPT 2022-2026 môn Văn Đà Nẵng (Có đáp án)

Bộ 6 Đề thi thử tốt nghiệp THPT 2022-2026 môn Văn Đà Nẵng (Có đáp án)
 ĐỀ SỐ 1
 SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO KỲ THI THỬ TỐT NGHIỆP THPT NĂM 2026
 ĐÀ NẴNG MÔN: NGỮ VĂN
 LẦN 2 Thời gian làm bài: ..... phút (Không kể thời gian giao đề)
PHẦN I. ĐỌC HIỂU ( 4,0 điểm )
 Đọc văn bản sau:
 GA TÀU TUỔI THƠ
 (Lược đoạn đầu: Tôi rất sợ những buổi chiều thu im ắng, bàng bạc trôi qua cuộc đời mình. Nó gợi 
nhớ cho tôi về những tháng năm tuổi thơ chiều nào cũng ra ngõ ngóng những chuyến tàu ngược chở nặng 
niềm mong mỏi [] Khi ấy mẹ tôi bị bệnh nặng, bố gói ghém tất cả gia tài và tình yêu đưa mẹ lên 
chuyến tàu xuôi xuống Hà Nội chữa bệnh, nhà chỉ còn ba anh em chăm nhau.)
 Ở ngõ nhà tôi có một cây bạch đàn to, mỗi hôm ra ngóng bố mẹ tôi lại lấy mảnh trai cứa lên thân 
cây một vạch. Cho đến buổi chiều hôm ấy anh tôi đếm trên thân cây thấy vừa tròn mười lăm vạch. Chiều 
ấy khi trời đã tối hẳn, anh tôi đã dắt thằng út em vào nhà, tôi vẫn còn đứng nán lại nhìn một lần nữa phía 
con đường mòn. Tôi bỗng hét lên sung sướng vì đã nhìn thấy bóng dáng thân quen của bố mẹ đang đi về 
phía chúng tôi. Buổi chiều muộn ấy là một buổi chiều tràn ngập niềm vui, thằng út em sà vào vòng tay, 
dụi dụi vào ngực mẹ như nó vẫn còn nhớ mùi hương của sữa. Anh cả vừa hát vừa nhảy chân sáo đi đằng 
sau. Bố công kênh tôi trên đôi vai đã gầy sọp đi vì vất vả. Tối ấy cả nhà trải chiếu ra giữa sân ngập tràn 
ánh trăng, mẹ lại hát ru em ngủ, bố kể nốt câu chuyện cổ tích “Cây khế” còn dang dở 15 ngày trước
 Rồi khi em út tôi bị ung nhọt mọc đầy người, bố mẹ lại một lần nữa gồng gánh niềm tin xuôi tàu về 
Hà Nội. Nhà chỉ còn hai anh em chăm nhau nhưng vẫn không quên chiều chiều lại ra ngõ ngóng. Mấy 
đứa trẻ con trong xóm chơi bắn bi với tôi bị thua nên ghét tôi lắm, cứ chiều thấy anh em tôi ra ngõ là 
chúng lại xúm vào trêu rất ác: “Đồ mồ côi! Anh em nhà mồ côi bị bố mẹ bỏ rơi. Ê ồ! Ê ồ!” Tôi vừa gào 
khóc vừa nhặt đất đá ném lũ trẻ. Anh cả cõng tôi trên lưng đi về phía con đường mòn, chúng tôi cứ đi từ 
khi mặt trời bắt đầu xuống núi đến khi tôi mỏi mắt cũng không nhìn rõ hướng đi. Lúc ấy tôi khóc khản cả 
cổ còn anh trai thì luôn miệng dỗ dành:
 - Em gái ngoan nào, để anh cõng em đi tìm bố mẹ đi tìm em út nhé. Rồi mai anh đi hái quả đùm đũm 
chín mọng đỏ cho ăn nhé.
 Đấy là lần đầu tiên chúng tôi nhìn thấy ga tàu, hai đứa trẻ con cõng nhau đứng lọt thỏm giữa sân ga 
im ắng, khách xuống tàu đã về hết tự lúc nào. Anh tôi đứng lặng rất lâu, tôi thấy có vài giọt nước ấm rơi 
xuống đôi bàn tay đang bá vào cổ anh. Tôi biết là anh đang khóc, nhưng sau đó anh lại xốc tôi lên và 
cõng quay trở lại con đường mòn khi nãy.
 Tôi không thể nhớ nổi có biết bao buổi chiều đã đi qua cuộc đời chúng tôi buồn bàng bạc như thế. 
Bởi em tôi bệnh rất nặng, phải mấy năm sau em mới thật sự khỏi bệnh. Trong lúc bố mẹ tôi gồng gánh 
trên đôi vai mình những gian nan, vất vả chạy chữa khắp nơi để cứu lấy sinh mạng em tôi, thì anh trai đã 
phải lớn lên trước tuổi để che chở, bao bọc thứ niềm tin nhỏ bé trong tôi. Từ tình yêu thương đó tôi lớn 
lên từng ngày một, tôi hiểu ra rằng những chuyến đi của bố mẹ có ý nghĩa lớn lao như thế nào, tôi cũng hiểu rằng anh cả là một người anh thật tuyệt vời. Lúc bố mẹ vắng nhà anh đã đứng vững, đã làm cái 
“nóc nhà” để che chở vỗ về và cả tha thứ cho bầy em bé nhỏ của mình.
 Cho đến mãi sau này tôi cũng không bao giờ quên những buổi chiều anh trai tôi dắt tôi ra ngõ 
ngóng người thân trở về. Cây bạch đàn ở ngõ đã bao lần thay vỏ, những vết khắc năm xưa đã không còn 
nữa nhưng vết khắc tuổi thơ thì vẫn luôn hằn trong tâm trí chúng tôi. Để sau này khi dòng xoáy cuộc đời 
có cuốn chúng tôi về đâu đi nữa thì những buổi chiều ngang qua cuộc đời sẽ giúp tôi tìm về nguồn cội để 
biết yêu thương và được yêu thương thật nhiều trong vòng tay ấm áp của gia đình.
 (Theo tác giả Vũ Thị Huyền Trang, Ga tàu tuổi thơ, báo Tài hoa trẻ, số 750 ngày 15.02.2012)
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1. Chỉ ra dấu hiệu nhận biết ngôi kể trong văn bản.
Câu 2. Theo văn bản, mỗi hôm ra ngõ ngóng bố mẹ, nhân vật tôi đều có hành động gì?
Câu 3. Nhận xét tình cảm của nhân vật tôi dành cho người thân qua câu: “Trong lúc bố mẹ tôi gồng gánh 
trên đôi vai mình những gian nan, vất vả chạy chữa khắp nơi để cứu lấy sinh mạng em tôi, thì anh trai đã 
phải lớn lên trước tuổi để che chở, bao bọc thứ niềm tin nhỏ bé trong tôi.”.
Câu 4. Phân tích tác dụng của biện pháp tu từ trong câu văn sau: “Tối ấy cả nhà trải chiếu ra giữa sân 
ngập tràn ánh trăng, mẹ lại hát ru em ngủ, bố kể nốt câu chuyện cổ tích “Cây khế” còn dang dở 15 ngày 
trước”.
Câu 5. Từ suy tư của nhân vật tôi: Cây bạch đàn ở ngõ đã bao lần thay vỏ, những vết khắc năm xưa đã 
không còn nữa nhưng vết khắc tuổi thơ thì vẫn luôn hằn trong tâm trí chúng tôi. Anh/ chị nêu suy nghĩ 
của bản thân về ý nghĩa những kí ức tuổi thơ.
PHẦN II. VIẾT VĂN (6,0 điểm)
Câu 1. (2,0 điểm) Từ ngữ liệu phần Đọc hiểu, Anh/chị hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) 
phân tích đặc sắc nghệ thuật truyện ngắn Ga tàu tuổi thơ của tác giả Vũ Thị Huyền Trang.
Câu 2. (4,0 điểm) Anh/chị hãy viết bài văn nghị luận khoảng 600 chữ trình bày suy nghĩ về vấn 
đề: Những thử thách trong cuộc sống tạo ra cơ hội, động lực hay khiến chúng ta bế tắc, bi quan.
 -------Hết-------
- Thí sinh không sử dụng tài liệu
- Giám thị không giải thích gì thêm ĐÁP ÁN
Phần Câu Nội dung Điểm
 I ĐỌC HIỂU 4,0
 1 Dấu hiệu nhận biết ngôi kể của văn bản: 0,5
 - Ngôi kể của văn bản: Ngôi thứ nhất
 - Nhân vật xưng tôi, trực tiếp kể lại câu chuyện. 
 Hướng dẫn chấm:
 - Thí sinh trả lời như đáp án:0,5 điểm.
 - Thí sinh trả lời đúng 1 ý: 0,25 điểm.
 - Thí sinh trả lời khác đáp án/ không trả lời: 0,0 điểm.
 2 Theo văn bản, mỗi hôm ra ngõ ngóng bố mẹ, tôi lại lấy mảnh trai cứa lên 0,5
 thân cây một vạch. 
 Hướng dẫn chấm:
 - Thí sinh trả lời như đáp án:0,5 điểm.
 - Thí sinh trả lời khác đáp án/ không trả lời: 0,0 điểm.
 3 Nhận xét tình cảm của nhân vật tôi dành cho người thân qua câu văn:“Trong 1,0
 lúc bố mẹ tôi gồng gánh trên đôi vai mình những gian nan, vất vả chạy chữa 
 khắp nơi để cứu lấy sinh mạng em tôi, thì anh trai đã phải lớn lên trước tuổi 
 để che chở, bao bọc thứ niềm tin nhỏ bé trong tôi.”.
 - Thương cảm, quý trọng sự cứng cỏi và những yêu thương của anh trai dành 
 cho mình;
 - Thương yêu và trân trọng sự vất vả, gian truân của cha mẹ;
 - Đau xót khi em út bị mắc trọng bệnh.
 Hướng dẫn chấm:
 - Thí sinh trả lời như đáp án/ diễn đạt tương đương:1.0 điểm.
 - Thí sinh trả lời 2 ý: 0,75 điểm.
 - Thí sinh trả lời 1 ý: 0,25 điểm.
 - Thí sinh trả lời khác đáp án/ không trả lời: 0,0 điểm.
 4 Phân tích tác dụng của biện pháp tu từ trong câu văn sau: “Tối ấy cả nhà 1,0
 trải chiếu ra giữa sân ngập tràn ánh trăng, mẹ lại hát ru em ngủ, bố kể 
 nốt câu chuyện cổ tích “Cây khế” còn dang dở 15 ngày trước”.
 - Biện pháp tu từ liệt kê: cả nhà trải chiếu ra giữa sân, mẹ lại hát ru em ngủ, 
 bố kể nốt câu chuyện cổ tích “Cây khế” còn dang dở 15 ngày trước.
 - Làm nổi bật không gian ấm áp của gia đình và niềm sung sướng, hạnh phúc 
 của nhân vật tôi khi gia đình đoàn tụ.
 - Tăng sự sinh động, hấp dẫn của câu văn, lôi cuốn người đọc.
 Hướng dẫn chấm:
 - Thí sinh trả lời như đáp án/ diễn đạt tương đương:1.0 điểm.
 - Thí sinh trả lời ý 1: 0,25 điểm. Phần Câu Nội dung Điểm
 - Thí sinh trả lời ý 2: 0,5 điểm.
 - Thí sinh trả lời ý 3: 0,25 điểm.
 - Thí sinh trả lời khác đáp án/ không trả lời: 0,0 điểm. 
 5 HS tự do bày tỏ suy nghĩ của bản thân nhưng cần diễn đạt thuyết phục. Có 1,0
 thể theo gợi ý sau:
 - Trải nghiệm tuổi thơ là thời gian mà ta được sống hồn nhiên, trong sáng, 
 vô tư;
 - Những trải nghiệm của tuổi thơ luôn gắn bó với những người thân thương, 
 gia đình của mỗi người - là nơi mà những yêu thương, bảo bọc luôn bao la;
 - Kí ức tuổi thơ với những buồn, vui luôn là những giá trị tinh thần vô giá 
 trong cuộc đời của mỗi người giúp ta thấy được mình đã lớn lên như thế nào 
 và là động lực để ta luôn cố gắng để sống tốt hơn.
 Hướng dẫn chấm:
 - Thí sinh trả lời như đáp án/ diễn đạt tương đương:1.0 điểm.
 - Thí sinh trả lời có ý nhưng diễn đạt chưa trọn vẹn: 0.5 điểm – 0.75 điểm.
 - Thí sinh trả lời quá sơ sài: 0,25 điểm.
 - Thí sinh trả lời không đúng yêu cầu/ không trả lời: 0,0 điểm. 
 * Lưu ý: Thí sinh có thể diễn đạt nhiều cách, hợp lý, thuyết phục là chấp 
 nhận được.
 II VIẾT 6,0
 1 Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) phân tích đặc sắc nghệ thuật của văn 2,0
 bản .
 a. Xác định được yêu cầu hình thức, dung lượng của đoạn văn 0,25
 Bảo đảm yêu cầu về hình thức và dung lượng (khoảng 200 chữ) của đoạn 
 văn. Thí sinh có thể trình bày đoạn văn theo cách diễn dịch, quy nạp, phối 
 hợp, móc xích hoặc song hành.
 b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Phân tích đặc sắc nghệ thuật của văn 0,25
 bản.
 c. Viết được đoạn văn bảo đảm các yêu cầu 1,5
 Lựa chọn được các thao tác lập luận phù hợp, kết hợp chặt chẽ lí lẽ và dẫn 
 chứng trên cơ sở bảo đảm các nội dung sau:
 - Phân tích đặc sắc nghệ thuật văn bản:
 + Văn bản Ga tàu tuổi thơ được trần thuật từ ngôi thứ nhất, điểm nhìn chủ 
 yếu được đặt vào nhân vật xưng tôi – một thành viên của gia đình - mọi 
 dòng cảm xúc và suy nghĩ bộc lộ trực tiếp, chân thực.
 + Tình huống truyện: Nhân vật tôi được đặt trong tình thế gia đình đứng 
 trước những biến cố. Tình thế đó đã khiến nhân vật có những trải nghiệm, 
 nhận thức mới mẻ về gia đình, về những người thân và có những kí ức tuyệt Phần Câu Nội dung Điểm
 diệu của tuổi thơ.
 + Có những chi tiết thể hiện được sâu sắc tâm lí nhân vật, chạm đến cảm xúc 
 của người đọc: hai anh em ra ga tàu, gia đình đoàn tụ sau những ngày cách 
 biệt
 + Ngôn ngữ giản dị, giàu cảm xúc, đậm hơi thở cuộc sống thể hiện sâu sắc 
 cảm xúc của nhân vật.
 + Giọng điệu nhẹ nhàng, tình cảm biểu lộ sự trân trọng đối với kí ức tuổi thơ, 
 tình cảm gia đình của nhân vật; tạo sự đồng cảm, như đưa người đọc về với 
 ga tàu tuổi thơ của riêng mình.
 - Đánh giá: nét đặc sắc nghệ thuật khắc họa rõ nét những mối quan hệ, cảm 
 xúc nhân vật; làm cho tác phẩm trở nên sâu sắc và giàu tính nhân văn; hấp 
 dẫn người đọc.
 Hướng dẫn chấm:
 + Lập luận chặt chẽ, thuyết phục: lí lẽ xác đáng, bằng chứng tiêu biểu, 
 phù hợp; kết hợp nhần nhuyễn giữa lí lẽ và bằng chứng ( 0.75 -1.0 điểm)
 + Lập luận chưa thật chặt chẽ, thuyết phục: lí lẽ xác đang nhưng không 
 có bằng chứng hoặc bằng chứng không tiêu biểu ( 0.5 điểm).
 + Lập luận không chặt chẽ, thiếu thuyết phục: lí lẽ không xác đáng, 
 không liên quan mật thiết đến vấn đề nghị luận, không có bằng chứng hoặc 
 bằng chứng không phù hợp ( 0.25 điểm)
 + Cho 0,25 điểm nếu thể hiện sâu sắc về vấn đề nghị luận, có cách diễn 
 đạt mới mẻ và có ý sáng tạo.
 Trừ điểm mắc lỗi (diễn đạt lủng củng, sai chính tả, dùng từ và chấm câu 
 sai, chữ viết cẩu thả): trừ 0,5 điểm nếu đoạn văn mắc từ 5-7 lỗi; mắc từ 8-10 
 lỗi trừ 0,75 điểm; mắc trên 10 lỗi không cho vượt quá nửa số điểm cả câu.
 2 Anh/chị hãy viết bài văn nghị luận khoảng 600 chữ trình bày suy nghĩ về 
 vấn đề: Những thử thách trong cuộc sống tạo ra cơ hội, động lực hay khiến 
 chúng ta bế tắc, bi quan.
 a. Bảo đảm bố cục và dung lượng của bài văn nghị luận 0,25
 Bảo đảm yêu cầu về bố cục và dung lượng (khoảng 600 chữ) của bài văn.
 b. Xác định đúng vấn đề nghị luận: Những thử thách trong cuộc sống tạo ra 0,5
 cơ hội, động lực hay khiến chúng ta bế tắc, bi quan.
 c. Viết được bài văn nghị luận bảo đảm các yêu cầu 2,5
 Lựa chọn được các thao tác lập luận phù hợp; kết hợp nhuần nhuyễn lí lẽ và 
 dẫn chứng; trình bày được hệ thống ý phù hợp theo bố cục ba phần của bài 
 văn nghị luận. Có thể triển khai theo hướng:
 - Giải thích được vấn đề nghị luận Phần Câu Nội dung Điểm
 + Thử thách: những khó khăn, trở ngại, thách thức xảy đến trong cuộc sống 
 của mỗi người.
 + Cơ hội, động lực: điều kiện thuận lợi, thúc đẩy sự phát triển tích cực.
 + Bế tắc, bi quan: trạng thái tiêu cực, không tìm được hướng giải quyết, thiếu 
 niềm tin vào bản thân, vào tương lai.
 => Những khó khăn trong cuộc sống luôn tạo ra cả những cơ hội và áp lực 
 cho chúng ta.
 - Phân tích, chứng minh được vấn đề nghị luận
 + Cuộc sống luôn tiềm ẩn những nguy cơ, thách thức, đòi hỏi mỗi người, đặc 
 biệt là những người trẻ phải đối mặt và giải quyết Những áp lực cuộc sống 
 đòi hỏi mỗi người phải phát huy sức mạnh của bản thân (nghị lực, ý chí, năng 
 lực sáng tạo, năng lực hợp tác). Hơn nữa trong quá trình vượt qua thử 
 thách, ta có thể đón gặp những cơ hội hiếm có để tạo nên được những thành 
 quả lớn lạo, thành tựu nổi bật. Từ đó khẳng định được giá trị của bản thân và 
 đóng góp hữu ích cho cộng đồng.
 + Tuy nhiên những khó khăn, nhất là những biến cố ta gặp phải thường đẩy 
 ta vào hoàn cảnh bế tắc, sự tuyệt vọng, bi quan, mất phương hướng và cả 
 những thất bại. Điều đó càng khiến ta suy sụp, đầu hàng, không dám đối diện 
 vượt qua khó khăn; ta ngày càng mất đi niềm tin trong cuộc sống.
 => Những thử thách trong cuộc sống chính là phép thử để thể hiện, khẳng 
 định năng lực, giá trị của mỗi người.
 • Mở rộng vấn đề nghị luận và rút ra bài học
 + Thử thách là cơ hội, động lực hay khiến ta bế tắc, bi quan do bản lĩnh sống 
 của của mỗi người;
 + Phê phán thái độ sống tiêu cực: không đánh giá đúng mức độ của những 
 thử thách nên có người bị rơi vào sự ảo tưởng sức mạnh khi xem nhẹ thử 
 thách hoặc không nỗ lực vượt qua khi quá sợ hãi, hoảng loạn.
 + Bài học nhận thức và hành động: cần nhận thức đúng mức độ của những 
 thử thách mà ta gặp phải, hiểu được hoàn cảnh và điều kiện của bản thân để 
 ứng xử phù hợp; tích cực học tập, rèn luyện để có đủ bản lĩnh đối diện với 
 những khó khăn, thử thách trong cuộc sống.
 Hướng dẫn chấm:
 - Phân tích, bàn luận vấn đề toàn diện, sâu sắc: 2,5 điểm. Trong đó: + Giới 
 thiệu vấn đề nghị luận: 0,25 điểm;
 + Giải thích: 0,5 điểm;
 + Bàn luận: 1,0 điểm;
 + Mở rộng cho 0,5 điểm;
 + Khái quát vấn đề nghị luận cho 0,25 điểm.
 - Phân tích, bàn luận vấn đề chưa toàn diện hoặc chưa sâu sắc: 1,5 điểm - Phần Câu Nội dung Điểm
 2,0 điểm.
 - Phân tích, bàn luận vấn đề còn chung chung: 0,75 điểm - 1,25 điểm.
 - Phân tích, bàn luận vấn đề không rõ trọng tâm: 0,25 điểm - 0,5 điểm.
 d. Diễn đạt 0,25
 Bảo đảm chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết văn bản.
 Hướng dẫn chấm: 
 - Thí sinh mắc từ 5 đến 10 lỗi chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết 
 câu: 0,25 điểm.
 - Thí sinh mắc trên 10 lỗi chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết 
 câu: không cho điểm ý này.
 e. Sáng tạo:
 Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ.
 Hướng dẫn chấm: 
 0.5
 - Đáp ứng được 2 yêu cầu: 0,5 điểm.
 - Đáp ứng được 1 yêu cầu: 0,25 điểm.
 - Không đáp ứng được các yêu cầu nêu trên: 0 điểm.
 Tổng điểm 10,0 ĐỀ SỐ 2
 SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO KỲ THI THỬ TỐT NGHIỆP THPT NĂM 2026
 ĐÀ NẴNG MÔN: NGỮ VĂN
 LẦN 1 Thời gian làm bài: ..... phút (Không kể thời gian giao đề)
I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Đọc văn bản:
 Thời đại của tốc độ lớn
 Bằng Việt¹
 (1) Chúng ta sống vào thời căng sức nhất
 Hơn mọi thời, sáu chục vạn năm qua!
 (2) Hãy giả định: lịch sử loài người dài 60 cây số²
 Thì 58 cây số đầu, là đất bãi, rừng hoang,
 Cây số thứ 59 mới biết tạo những chiếc rìu bằng đá
 Cách ta 200 mét, mới có đế chế huy hoàng La Mã.
 100 mét - bắt đầu những thành trì Trung cổ nhọn lô nhô.
 50 mét - mới thấy Lêôna đơ Vanhxi ngồi vẽ bức tranh La Giốccông nổi tiếng.
 Và 10 mét - hãy còn sợi bấc thắp trên đĩa dầu leo lét
 Chỉ tới 5 mét cuối cùng, ánh điện mới bừng lên!
 (3) Trong 5 mét ấy thôi, loài người đã tạo ra xe hơi, máy bay, ra-đi-ô và vô tuyến 
 truyền hình,
 Đã làm nổ hạt nhân, đã bay lên vũ trụ,
 Đã chế thử chất sống nguyên sinh, và bộ óc phi thường điện tử.
 Tuổi trẻ chúng ta, chính ở giữa thời này!
 (4) Chớ nên kêu ca chút gì về tuổi trẻ chẳng bình yên.
 Về thế giới vùn vụt tăng tốc độ.
 Chỉ đáng tiếc: cuộc đời mình quá nhỏ
 Để hiểu đến tận cùng bao bí ẩn hôm nay...
 (5) Ta là bạn của mùa xuân, của khát vọng mê say,
 Tốc độ lớn đừng khiến ta chóng mặt.
 Chỉ nên nghĩ:
 Nếu những chuyện thần kì phải làm, chưa có thật
 Thì tuổi trẻ dành cho ta -
 Để đoạt lấy những thần kì!
 (Trích Thơ Bằng Việt, NXB Văn học, 2003, tr.239-241)
¹ Nhà thơ Bằng Việt tên thật là Nguyễn Việt Bằng, sinh năm 1941, quê quán Hà Nội, từng theo học ngành 
luật nhưng sau chuyển sang sáng tác thơ.
² Để dễ hình dung, ta chuyển thời gian ra độ dài cơ học: cứ 1 mét ở đây tương đương với 10 năm trong 
lịch sử loài người. (Chú thích của tác giả)
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1 (0,5 điểm). Xác định 01 dấu hiệu hình thức để nhận biết thể thơ tự do của văn bản.
Câu 2 (0,5 điểm). Chỉ ra những điều xuất hiện trong lịch sử loài người từ cách ta 200 mét đến 5 mét cuối 
cùng được nhắc đến trong đoạn (2). Câu 3 (1,0 điểm). Phân tích tác dụng của biện pháp tu từ liệt kê được sử dụng trong đoạn (3).
Câu 4 (1,0 điểm). Lí giải mối quan hệ giữa nhan đề Thời đại của tốc độ lớn với nội dung của văn bản.
Câu 5 (1,0 điểm). Từ lời nhắn nhủ Tốc độ lớn đừng khiến ta chóng mặt của tác giả, anh/chị rút ra được 
bài học gì đối với bản thân trong thời đại ngày nay? (Trình bày tối đa 07 dòng)
II. VIẾT VĂN (6,0 điểm)
Câu 1 (2,0 điểm)
Anh/Chị hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích dòng suy ngẫm của nhân vật trữ tình 
trong văn bản ở phần Đọc hiểu.
Câu 2 (4,0 điểm)
Từ kết quả đọc hiểu văn bản Thời đại của tốc độ lớn (Bằng Việt) và bằng trải nghiệm cá nhân, anh/chị 
hãy viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) với chủ đề: Tuổi trẻ “viết” nên những chuyện thần kì.
 - Hết – ĐÁP ÁN
HẦN I – ĐỌC HIỂU:
Câu 1 (0,5 điểm).
Dấu hiệu hình thức để nhận biết thể thơ tự do: số tiếng trong các dòng thơ không đều nhau, số dòng 
trong mỗi khổ cũng không cố định. Bài thơ trên cũng được ghi là thơ tự do. 
Câu 2 (0,5 điểm).
Những điều xuất hiện trong lịch sử loài người từ cách ta 200 mét đến 5 mét cuối cùng được nhắc đến ở 
đoạn (2) là:
 • đế chế huy hoàng La Mã; 
 • những thành trì Trung cổ; 
 • Lêôna đơ Vanhxi vẽ bức tranh La Giôcông; 
 • sợi bấc thắp trên đĩa dầu leo lét; 
 • ánh điện bừng lên. 
Câu 3 (1,0 điểm).
Biện pháp tu từ liệt kê trong đoạn (3) qua hàng loạt chi tiết như: “xe hơi, máy bay, rađiô và vô tuyến 
truyền hình”, “làm nổ hạt nhân”, “bay lên vũ trụ”, “chế thử chất sống nguyên sinh”, “bộ óc phi thường 
điện tử” có tác dụng nhấn mạnh sự phát triển nhanh chóng, mạnh mẽ và kì diệu của văn minh nhân 
loại trong một thời gian rất ngắn. Đồng thời, cách liệt kê ấy còn gợi cảm giác choáng ngợp, tự hào, 
làm nổi bật nhận thức của tác giả: tuổi trẻ hôm nay đang sống ngay giữa trung tâm của thời đại tăng 
tốc ấy. 
Câu 4 (1,0 điểm).
Nhan đề Thời đại của tốc độ lớn gắn chặt với nội dung văn bản. Nhan đề khái quát đặc điểm nổi bật của 
thời đại con người đang sống: mọi thành tựu khoa học, kĩ thuật, văn minh xuất hiện với nhịp độ rất 
nhanh, dồn dập và lớn lao. Nội dung bài thơ đã làm rõ điều đó bằng cách hình dung lịch sử loài người 
như quãng đường 60 cây số, nhưng những bước phát triển vượt bậc lại tập trung chủ yếu ở đoạn cuối, 
nhất là “5 mét” gần đây. Từ nhan đề ấy, bài thơ không chỉ nói về tốc độ phát triển của thời đại mà còn gửi 
gắm lời nhắn nhủ tuổi trẻ phải đủ bản lĩnh để sống xứng đáng trong thời đại ấy. 
Câu 5 (1,0 điểm).
Từ lời nhắn nhủ “Tốc độ lớn đừng khiến ta chóng mặt”, em rút ra bài học rằng trong thời đại hôm nay, 
con người cần giữ sự tỉnh táo và bản lĩnh trước nhịp sống quá nhanh. Mỗi người trẻ phải biết học tập 
nghiêm túc, rèn luyện khả năng thích ứng, chủ động tiếp cận cái mới nhưng không sống vội, sống hời hợt. 
Đồng thời, cần biết chọn lọc thông tin, giữ vững mục tiêu và nuôi dưỡng khát vọng cống hiến. Chỉ như 
vậy, ta mới không bị thời đại cuốn đi mà có thể trưởng thành và tạo ra giá trị tốt đẹp cho cuộc sống. 
II. VIẾT – Câu 1 (khoảng 200 chữ)
Dàn ý
1. Mở đoạn
Giới thiệu khái quát dòng suy ngẫm của nhân vật trữ tình trong văn bản: suy ngẫm về thời đại, về vị trí 
của tuổi trẻ và thái độ sống cần có trước nhịp phát triển thần tốc của cuộc sống.
2. Thân đoạn
 • Nhân vật trữ tình ý thức sâu sắc về tốc độ phát triển phi thường của lịch sử nhân loại. 

File đính kèm:

  • docxbo_6_de_thi_thu_tot_nghiep_thpt_2022_2026_mon_toan_da_nang_c.docx