11 Đề thi thử tốt nghiệp THPT 2021-2026 môn Văn SGD Sơn La (Có đáp án)

Đường dài đi giữa Trường Sơn
Nghe vọng bài ca đất nước

Đất Nước
Bốn ngàn năm không nghỉ
Những đạo quân song song cùng lịch sử
Đi suốt thời gian, đi suốt không gian
Sừng sững dưới trời anh dũng hiên ngang

Đất Nước
Của những câu chuyện đều làm ta rưng rưng nước mắt
Đã trở thành những bài ca không bao giờ tắt
Trên mỗi con đường mỗi thôn xóm ta qua
Từ non ngàn cho tới biển xa

Đất Nước
Của thơ ca
Của bốn mùa hoa nở
Đọc trang Kiều tưởng câu hát dân gian
Nghe xôn xao trong gió hội mây ngàn

Đất Nước
Của những dòng sông
Gọi tên nghe mát rượi tầm hồn
Ngọt lịm những giọng hò xứ sở
Trong sáng như trời xanh, mượt mà như nhung lụa

Đất Nước
Của những người mẹ
Mặc áo thay vai
Hạt lúa củ khoai
Bền bỉ nuôi chồng, nuôi con chiến đấu

Đất Nước
Của những người con gái con trai
Đẹp như hoa hồng cứng như sắt thép
Xa nhau không hề rơi nước mắt
Nước mắt để dành cho ngày gặp mặt

docx 59 trang Hương Lăng 31/05/2026 100
Bạn đang xem 30 trang mẫu của tài liệu "11 Đề thi thử tốt nghiệp THPT 2021-2026 môn Văn SGD Sơn La (Có đáp án)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

Tóm tắt nội dung tài liệu: 11 Đề thi thử tốt nghiệp THPT 2021-2026 môn Văn SGD Sơn La (Có đáp án)

11 Đề thi thử tốt nghiệp THPT 2021-2026 môn Văn SGD Sơn La (Có đáp án)
 ĐỀ SỐ 1
 SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO KỲ THI THỬ TỐT NGHIỆP THPT NĂM 2026
 SƠN LA MÔN: NGỮ VĂN
 LẦN 1 Thời gian làm bài: ..... phút (Không kể thời gian giao đề)
I. ĐỌC HIỂU (4.0 điểm)
Đọc văn bản sau:
 Đường dài đi giữa Trường Sơn
 Nghe vọng bài ca đất nước
 Đất Nước
 Bốn ngàn năm không nghỉ
 Những đạo quân song song cùng lịch sử
 Đi suốt thời gian, đi suốt không gian
 Sừng sững dưới trời anh dũng hiên ngang
 Đất Nước
 Của những câu chuyện đều làm ta rưng rưng nước mắt
 Đã trở thành những bài ca không bao giờ tắt
 Trên mỗi con đường mỗi thôn xóm ta qua
 Từ non ngàn cho tới biển xa
 Đất Nước
 Của thơ ca
 Của bốn mùa hoa nở
 Đọc trang Kiều tưởng câu hát dân gian
 Nghe xôn xao trong gió hội mây ngàn
 Đất Nước
 Của những dòng sông
 Gọi tên nghe mát rượi tầm hồn
 Ngọt lịm những giọng hò xứ sở
 Trong sáng như trời xanh, mượt mà như nhung lụa
 Đất Nước
 Của những người mẹ
 Mặc áo thay vai
 Hạt lúa củ khoai
 Bền bỉ nuôi chồng, nuôi con chiến đấu Đất Nước
 Của những người con gái con trai
 Đẹp như hoa hồng cứng như sắt thép
 Xa nhau không hề rơi nước mắt
 Nước mắt để dành cho ngày gặp mặt
 (Nam Hà1, trích Chúng con chiến đấu cho Người sống mãi Việt Nam ơi, Lương Minh Cừ tuyển chọn, 
 NXB Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2020, Tr.73 – 74)
Chú thích: (1): Tác giả Nam Hà (1935 - 2018) tên khai sinh là Nguyễn Anh Công, quê ở Đô Lương, Nghệ 
An. Ông được trao tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật năm 2007.
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1. (0,5 điểm) Xác định thể thơ của văn bản.
Câu 2. (0,5 điểm) Chỉ ra những hình ảnh thơ khắc họa vẻ đẹp của hình tượng đất nước trong văn bản trên.
Câu 3. (1,0 điểm) Nêu cách hiểu của anh/chị về những dòng thơ sau:
 Đất Nước
 Bốn ngàn năm không nghỉ
 Những đạo quân song song cùng lịch sử
 Đi suốt thời gian, đi suốt không gian
 Sừng sững dưới trời anh dũng hiên ngang
Câu 4. (1,0 điểm) Phân tích hiệu quả của việc sử dụng điệp ngữ Đất Nước trong văn bản trên.
Câu 5. (1,0 điểm) Hai ngữ liệu sau có sự tương đồng và khác biệt nào trong cảm nhận về đất nước?
 Đất Nước
 Của những người con gái con trai
 Đẹp như hoa hồng cứng như sắt thép
 Xa nhau không hề rơi nước mắt
 Nước mắt để dành cho ngày gặp mặt.
 (Chúng con chiến đấu cho người sống mãi Việt Nam ơi – Nam Hà)
 Và
 Có biết bao người con gái con trai
 Trong bốn ngàn lớp người giống ta lứa tuổi
 Họ đã sống và chết
 Giản dị và bình tâm
 Không ai nhớ mặt đặt tên
 Nhưng họ đã làm ra Đất Nước
 (Trường ca Mặt đường khát vọng – Nguyễn Khoa Điềm) II. PHẦN VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1. (2,0 điểm) Anh/chị hãy viết một đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích hình tượng đất 
nước trong văn bản ở phần Đọc hiểu.
Câu 2. (4,0 điểm)
Là một người trẻ sống trong xã hội hiện đại với rất nhiều cơ hội và phương tiện hỗ trợ, để phát triển bản 
thân và tìm kiếm thành công, anh/ chị chọn khai thác, dựa vào nguồn lực bên ngoài hay nội lực của chính 
bản thân?
Hãy viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) bày tỏ quan điểm của mình.
 ------------------Hết-------------------
 Thí sinh không sử dụng tài liệu. Giám thị coi thi không giải thích gì thêm. HƯỚNG DẪN GIẢI
I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Câu 1:
Phương pháp:
Căn cứ kiến thức về thể thơ, phân tích
- Thể thơ tự do
Câu 2:
Phương pháp:
HƯỚNG DẪN GIẢI 
Đọc kĩ văn bản, xác định các hình ảnh phù hợp
- Những hình ảnh thơ khắc họa vẻ đẹp đất nước:
“bốn ngàn năm không nghỉ”
“những đạo quân song song cùng lịch sử” “thơ ca”, “bốn mùa hoa nở”
“trang Kiều”, “câu hát dân gian” “dòng sông”, “giọng hò xứ sở” “những người mẹ”
“những người con gái, con trai”
Câu 3:
Phương pháp:
Đọc kĩ các câu thơ, phân tích
- Câu thơ "bốn ngàn năm không nghỉ" khẳng định hành trình lịch sử liên tục, không ngơi nghỉ của dân tộc 
Việt Nam trong dựng nước và giữ nước.
- Hình ảnh "những đạo quân" đi suốt "thời gian" và "không gian" cho thấy sức mạnh đoàn kết và ý chí 
bảo vệ chủ quyền trải dài qua mọi thế hệ, mọi vùng miền.
- Từ láy "sừng sững" kết hợp với "anh dũng hiên ngang" khắc họa một đất nước mạnh mẽ, không khuất 
phục trước bất kỳ kẻ thù hay thử thách nào.
Câu 4:
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản, căn cứ kiến thức điệp ngữ, phân tích
Điệp ngữ “đất nước” có tác dụng:
- Tạo sự kết nối giữa các khổ thơ, như một nhịp đập chủ đạo xuyên suốt toàn bộ văn bản, giúp mạch thơ 
liền mạch và nhất quán.
- Nhấn mạnh sự hiện diện của đất nước trong mọi khía cạnh (lịch sử, địa lý, văn hóa, con người). Đất 
nước không xa xôi mà hóa thân vào những điều bình dị nhất.
- Thể hiện thái độ trân trọng, thành kính và tình yêu thiết tha của tác giả. Mỗi lần vang lên, hai tiếng "Đất 
Nước" như một lời ngợi ca đầy tự hào.
Câu 5:
Phương pháp:
Đọc kĩ ngữ liệu, so sánh, tìm ra điểm tương đồng và khác biệt
- Điểm tương đồng: Cả hai đều tập trung ngợi ca vẻ đẹp của thế hệ trẻ ("những người con gái con trai") 
và khẳng định vai trò quyết định của họ đối với vận mệnh Đất Nước.
- Điểm khác biệt: + Đoạn thơ 1: Vẻ đẹp lý tưởng hóa (Sử thi): Nhấn mạnh sự kết hợp hài hòa giữa sự mềm mại, lãng mạn 
("hoa hồng") và ý chí kiên cường ("sắt thép"). Nỗi đau chia ly được nén lại thành sức mạnh chiến đấu.
+ Đoạn thơ 2: Vẻ đẹp bình dị (Triết lý): Nhấn mạnh sự hy sinh thầm lặng của những người vô danh. Họ 
là số đông "không ai nhớ mặt đặt tên" nhưng chính sự sống và cái chết giản dị của họ đã kiến tạo nên 
hình hài đất nước.
II. PHẦN VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1.
Phương pháp:
- Phân tích (Phân tích đề để xác định vấn đề nghị luận, yêu cầu, phạm vi dẫn chứng).
- Sử dụng các thao tác lập luận (phân tích, tổng hợp, bàn luận,) để tạo lập một văn bản nghị luận.
1. Mở đoạn: Giới thiệu chung về vấn đề nghị luận.
2. Thân đoạn
- Đất nước của lịch sử hào hùng và sự trường tồn:
+ Đất nước gắn liền với con số "bốn ngàn năm", song hành cùng những "đạo quân" đi suốt không gian và 
thời gian.
+ Tư thế "sừng sững", "hiên ngang" khẳng định bản lĩnh bất khuất của một dân tộc chưa bao giờ khuất 
phục trước gian nguy.
- Đất nước của văn hóa và tâm hồn tinh tế:
+ Đất nước kết tinh trong những giá trị tinh thần: câu hát dân gian, trang Kiều, giọng hò xứ sở.
+ Hình ảnh thiên nhiên "mát rượi tâm hồn", "mượt mà như nhung lụa" cho thấy một vẻ đẹp mềm mại, 
đậm đà bản sắc.
- Đất nước của những con người bình dị mà anh hùng:
+ Đó là người mẹ "mặc áo thay vai", tần tảo nuôi con chiến đấu -> Biểu tượng của sự hy sinh và lòng 
kiên nhẫn.
+ Đó là thế hệ trẻ "đẹp như hoa hồng, cứng như sắt thép" -> Sự kết hợp giữa tâm hồn lãng mạn và ý chí 
quyết tâm sắt đá.
- Nghệ thuật đặc sắc:
+ Điệp ngữ "Đất Nước" tạo nhịp điệu dồn dập, tự hào.
+ Thủ pháp so sánh, liệt kê và sử dụng chất liệu văn hóa dân gian nhuần nhuyễn.
+ Ngôn ngữ thơ giản dị, giàu sức biểu cảm
+ 
3. Kết đoạn: Tổng kết vấn đề nghị luận
Câu 2:
Phương pháp:
- Phân tích (Phân tích đề để xác định vấn đề nghị luận, yêu cầu, phạm vi dẫn chứng).
- Sử dụng các thao tác lập luận (phân tích, tổng hợp, bàn luận,) để tạo lập một văn bản nghị luận.
1. Mở bài: Giới thiệu chung vấn đề nghị luận.
2. Thân bài
* Giải thích: - Nội lực: Là giá trị tự thân (kiến thức, kỹ năng, ý chí, tư duy, đạo đức).
- Ngoại lực: Là những yếu tố bên ngoài (công nghệ, tài chính, mối quan hệ, sự hỗ trợ từ xã hội).
* Bàn luận vấn đề
- Tại sao nội lực là quyết định?
+ Giữa muôn vàn cơ hội, nếu không có tư duy độc lập (nội lực), ta sẽ bị hòa tan hoặc lạc lối, nội lực giúp 
ta định hướng
+ Công cụ hiện đại chỉ phát huy tác dụng khi rơi vào tay người có năng lực, còn nội lực luôn ở lại trong 
mỗi chúng ta, mỗi con người có thể biến nội lực của bản thân thành kết quả.
+ Ngoại lực có thể mất đi (khủng hoảng kinh tế, thay đổi công nghệ), nhưng nội lực là thứ duy nhất ở lại.
- Vai trò không thể thiếu của ngoại lực: Trong thời đại 4.0, "đơn thương độc mã" là tự sát. Ngoại lực giúp 
tăng tốc độ và quy mô của thành công. Biết tận dụng ngoại lực chính là một loại năng lực của nội lực.
HS lấy dẫn chứng minh hoạ phù hợp
- Mở rộng vấn đề:
+ Dựa dẫm quá mức vào ngoại lực dẫn đến sự lười biếng, rỗng tuếch (sống ảo, lệ thuộc công nghệ).
+ Chỉ tập trung nội lực mà bài trừ ngoại lực sẽ trở nên lạc hậu, chậm tiến.
- Liên hệ bản thân.
3. Kết bài: Tổng kết vấn đề nghị luận. ĐỀ SỐ 2
 SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO KỲ THI THỬ TỐT NGHIỆP THPT NĂM 2026
 SƠN LA MÔN: NGỮ VĂN
 LẦN 2 Thời gian làm bài: ..... phút (Không kể thời gian giao đề)
I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Đọc văn bản:
 CHÚNG TÔI VÀ BỌN HẮN
Tóm tắt bối cảnh: “Tôi” và Phúc là hai người bạn. Phúc tài năng, tính cách ngang tàng. Ra lính, công 
việc lận đận, sống hờ hững với vợ con, có cả mối quan hệ ngoài hôn nhân. Vợ anh lại là một phụ nữ Hà 
Nội nết na, một tay chèo lái gia đình vượt qua cảnh nghèo khó, bệnh tật và nuôi dạy các con khôn lớn, 
thành đạt. Tôi ra Hà Nội thăm vợ chồng Phúc, phát hiện chị Phúc không còn ở với con, chiêm nghiệm về 
sự thay đổi của thời đại, và kể về một lần đến thăm một người bạn thân thiết khác...
“...Cứ nhìn vào con mình và con cái của bạn bè là biết ngay thời thế đã thay đổi. Chúng là những nhân vật 
chính của một vận hội mới, một thời buổi mới, thời mở cửa, thời làm giàu, làm giàu cho mình và làm 
giàu cho nước, cái sự riêng chung này ly kỳ lắm, còn phải nói nhiều. Là thời mà các giá trị cũ đã mất tính 
tuyệt đối. Còn những giá trị mới thì lòe nhòe, bảo là phải cũng được, bảo là trái cũng được. Nó là những 
giá trị của buổi giao thời. Nghĩa là con phải gạn lọc chán những giá trị ấy mới trở thành giá trị thật để 
chấn hưng một dân tộc. Cuộc sống sẽ chọn lọc, sự phát triển sẽ chọn lọc, nên nó sẽ lâu, không thể sốt 
ruột. Mọi sự nóng vội từ trước đến nay nói chung là hỏng cả (...) Tôi đến chơi nhà một người bạn, anh chị 
đã ngót nghét bảy mươi nên coi tôi như em. Mỗi lần đến thăm anh chị đều giữ lại ăn cơm, gặp đúng bữa 
chỉ thêm bát thêm đũa là đủ. Người nhà mà. Lần này tôi đến vào lúc 10 giờ sáng. Ngồi đến 10 giờ 30 chả 
thấy ông bà bảo sao. Tôi đã tính cứ ngồi gan cho đến 11 giờ xem họ có mời cơm mình không nào. Không 
phải vì bữa cơm, cơm bụi Hà Nội rẻ lắm, ăn phè phỡn cũng chỉ hết dăm nghìn, mà tự do. Chỉ là muốn gây 
khó chơi, xem họ phản ứng thế nào, vì sao mà thay đổi. Mà tội lắm (ông liếc mắt nhìn bà, bà cúi mặt đưa 
mắt nhìn tôi, rồi lại nhìn chồng, như người có lỗi.) Tôi nhìn họ thích thú một cách độc ác, có chuyện rồi, 
chỉ chưa hiểu nó là chuyện gì. Đúng 11 giờ, nghe có tiếng còi xe hơi ngoài cổng, bà vợ chạy vội ra. Một 
lát sau ông con trai lớn của họ, bạn vong niên của tôi, nhon nhổn bước vào, comlê đen sọc, càvát, kính 
màu, chăn râu xanh mướt như một thương nhân ngoại quốc. Nó chào tôi rồi bảo ngay: “Chú ở đây dùng 
cơm với bố mẹ cháu. Có rượu rất ngon. À, mà chú đâu có biết uống rượu”. Lúc ấy cả hai ông bà già mới 
dám mời tôi ở lại. Trong lúc ăn, với người thân tình tôi hay nói xổ nên vừa cười vừa bảo: “Khi nãy tao 
thấy thương hại bố mẹ mày quá”. - “Sao vậy?”. - “Ông bà muốn mời tao ăn cơm nhưng vì chưa có lệnh 
của mày nên chưa dám mời. Tao cứ ngồi gan trêu hai cụ chơi”. Bà mẹ cười gượng: “Chú cứ nói quá, làm 
gì đến thế”. Nó cũng cười: “Mấy ông nhà văn cũng đều thật”. Rồi nó nói ngay: “Đúng là cháu không 
muốn bố mẹ cháu mời bất chợt bạn của các cụ cùng ăn với gia đình. Muốn mời phải báo trước để cháu 
còn tránh”. Tôi hỏi: “Anh không thích nói chuyện với bọn tôi à?”. Nó nhè miếng xương, nhăn mặt: “Toàn 
chuyện ông này ra ông kia vào, ông này lên ông kia xuống, chuyện của các cơ quan quyền lực dính líu gì 
đến bọn cháu”. - “Quyền lực vẫn chi huy kinh tế đấy anh ạ”. Nó cười: “Danh nghĩa là thế, còn thực chất vẫn là tiền chi huy. Đồng tiền lớn chi huy đồng tiền bé”. Nó uống một ngụm rượu, vẻ mặt đã rắn rắn đỏ: 
“Chúng cháu chỉ có một ông chủ thôi, đó là thị trường, mà quy luật của thị trường thì bất biến nên dễ ứng 
xử lắm”. Rồi nó hỏi, giọng xỏ xiên: “Ông chủ của chú là ai?” Tôi nói cũng hơi huênh hoang: “Tôi cũng 
chỉ có một ông chủ như anh, đó là bạn đọc”. Nó cười rất đều, trong hai chúng tôi nó mới là thằng đều: 
“Bạn đọc bây giờ đâu có thích văn của chú nữa. Toàn là nể, nói gì thì nói vẫn cứ là một cách nể. Chú 
được tiếng là khôn, nhưng cái khôn của chú chỉ có lợi cho một mình chú chứ lợi gì cho dân cho nước, có 
phải không?”. Vâng, nó nói đúng thế, tôi là một nhà văn, kể ra cũng có chút ít tên tuổi, một tí chút thôi, 
mà vẫn bị bọn trẻ ranh mắng vặt. Nó mắng cũng chả oan lắm đâu.”
 (Nguyễn Khải, Hà Nội trong mắt tôi, NXB Hội nhà văn Việt Nam, 2001)
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1 (0,5 điểm): Xác định ngôi kể và điểm nhìn trần thuật được sử dụng trong văn bản.
Câu 2 (0,5 điểm): Đoạn trích xoay quanh tình huống đời sống nào?
Câu 3 (1,0 điểm): Nhận xét ý nghĩa của chi tiết “ông liếc mắt nhìn bà, bà cúi mặt đưa mắt nhìn tôi, rồi 
lại nhìn chồng, như người có lỗi”, không dám mời cơm khách khi con trai chưa cho phép.
Câu 4 (1,0 điểm): Anh chị hiểu như thế nào về dòng suy nghĩ “nó mắng cũng chẳng oan lắm đâu” của 
nhân vật Tôi trước lời vạch tội của đứa con trai người bạn thân.
Câu 5 (1,0 điểm): Từ việc hiểu nội dung văn bản, anh/chị hãy lí giải những khác biệt, đổi thay của của 
hai thế hệ cũ và mới: Chúng tôi và bọn hắn.
II. PHẦN VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1. (2,0 điểm):
Anh/chị hãy viết một đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích nhân vật anh con trai của vợ chồng 
người bạn thân của nhân vật tôi trong văn bản Đọc hiểu.
Câu 2. (4,0 điểm)
Từ kết quả đọc hiểu đoạn trích trong truyện ngắn Chúng tôi và bọn hắn, cùng những hiểu biết về đời sống 
và bối cảnh đất nước đang có nhiều đổi thay lớn lao, anh/chị hãy viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) 
với chủ đề: “Để chấn hưng dân tộc” cần gạt bỏ các “giá trị cũ” lỗi thời nhưng cũng cần “gạn lọc” các 
“giá trị mới.”
 --------------------Hết--------------------
 Thí sinh không sử dụng tài liệu. Giám thị coi thi không giải thích gì thêm. ĐÁP ÁN
I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Câu 1 (0,5 điểm)
Xác định ngôi kể và điểm nhìn trần thuật được sử dụng trong văn bản.
Đáp án
• Văn bản được kể theo ngôi thứ nhất, người kể xưng “tôi”. 
• Điểm nhìn trần thuật chủ yếu đặt ở nhân vật “tôi”: câu chuyện được nhìn, cảm nhận, suy ngẫm và 
đánh giá qua trải nghiệm, quan sát, chiêm nghiệm của “tôi”. 
Giải thích thêm
Cách kể này làm cho câu chuyện trở nên:
• chân thực, gần gũi; 
• giàu tính suy tư, triết lí; 
• thể hiện rõ thái độ, cảm xúc của người kể trước sự đổi thay của con người và thời cuộc. 
Câu 2 (0,5 điểm)
Đoạn trích xoay quanh tình huống đời sống nào?
Đáp án
Đoạn trích xoay quanh tình huống nhân vật “tôi” đến thăm một người bạn già thân thiết ở Hà Nội, 
chứng kiến cảnh:
• ông bà già không dám mời cơm khách khi chưa có ý kiến của con trai; 
• sau đó người con trai xuất hiện, bộc lộ những quan niệm sống thực dụng, lạnh lùng, khác biệt hẳn với 
thế hệ cũ. 
Ý nghĩa tình huống
Tình huống ấy giúp làm nổi bật:
• sự đổi thay trong nếp sống, quan hệ gia đình, quan hệ người với người; 
• khoảng cách, xung đột giữa hai thế hệ; 
• những trăn trở của nhà văn trước thời buổi giao thời với nhiều giá trị cũ – mới đan xen. 
Câu 3 (1,0 điểm)
Nhận xét ý nghĩa của chi tiết “ông liếc mắt nhìn bà, bà cúi mặt đưa mắt nhìn tôi, rồi lại nhìn chồng, 
như người có lỗi”, không dám mời cơm khách khi con trai chưa cho phép.
Đáp án chi tiết
Chi tiết này có ý nghĩa rất sâu sắc:
Thứ nhất, nó cho thấy vị thế bị đảo ngược trong gia đình.
• Lẽ ra cha mẹ là người làm chủ nhà, có quyền tự nhiên trong việc tiếp khách. 
• Nhưng ở đây, họ lại rụt rè, dè dặt, lệ thuộc vào con trai, đến mức không dám mời một người quen 
thân ở lại ăn cơm. 
Thứ hai, chi tiết ấy gợi lên nỗi tủi thân, bất lực của thế hệ già.
• Cái “liếc mắt”, “cúi mặt”, “như người có lỗi” cho thấy sự ngượng ngập, xấu hổ, chạnh lòng. 
• Cha mẹ không còn được sống tự nhiên trong chính ngôi nhà của mình. 
Thứ ba, chi tiết phản ánh sự thay đổi của đạo lí, nếp sống truyền thống.
• Truyền thống Việt Nam coi trọng sự hiếu khách, nghĩa tình, sự đầm ấm giữa bạn bè, người thân. • Nay những giá trị ấy bị lấn át bởi lối sống tính toán, khép kín, thực dụng. 
Thứ tư, chi tiết góp phần thể hiện chủ đề tác phẩm:
• xã hội đang chuyển động mạnh; 
• các giá trị cũ không còn giữ nguyên vị thế; 
• nhưng cái mới chưa hẳn đã tốt đẹp, bởi nó có thể làm con người trở nên lạnh lùng, vô cảm. 
Có thể diễn đạt ngắn gọn
Đây là một chi tiết đắt giá, vừa tố cáo sự xuống cấp của tình người, vừa gợi nỗi xót xa cho những con 
người già nua bị mất dần quyền chủ động, tiếng nói và cả sự ấm áp trong chính mái ấm của mình.
Câu 4 (1,0 điểm)
Anh/chị hiểu như thế nào về dòng suy nghĩ “nó mắng cũng chẳng oan lắm đâu” của nhân vật Tôi 
trước lời vạch tội của đứa con trai người bạn thân.
Đáp án chi tiết
Dòng suy nghĩ “nó mắng cũng chẳng oan lắm đâu” cho thấy:
Trước hết, nhân vật “tôi” là người thành thực, tỉnh táo và biết tự phản tỉnh.
• Trước những lời có phần xấc xược, hỗn hào của người trẻ, “tôi” không chỉ tự ái hay nổi giận. 
• “Tôi” còn bình tĩnh nhìn lại mình, nhìn lại giới cầm bút, nhìn lại trách nhiệm của người nghệ sĩ. 
Tiếp theo, câu nói thể hiện bản lĩnh dám đối diện sự thật.
• Có thể lời của người con trai rất phũ phàng, nhưng không hoàn toàn sai. 
• Nó buộc “tôi” phải nghĩ về giá trị thực sự của văn chương, về quan hệ giữa danh tiếng cá nhân với lợi 
ích của nhân dân, đất nước. 
Ngoài ra, chi tiết còn cho thấy tâm thế đối thoại của nhà văn trước thời đại mới.
• “Tôi” không khư khư bảo vệ cái cũ. 
• “Tôi” chấp nhận lắng nghe, chấp nhận bị chất vấn, dù lời chất vấn đến từ một người trẻ có quan niệm 
khác mình. 
Cuối cùng, câu văn thể hiện chiều sâu nhân văn và tinh thần dân chủ trong tư duy nghệ thuật của 
Nguyễn Khải.
• Nhà văn không tự đặt mình ở vị trí chân lí tuyệt đối. 
• Ông nhìn nhận sự va đập giữa các thế hệ như một dịp để soi xét lại mình và suy ngẫm về sự đổi thay của 
đời sống. 
Kết luận
“Nó mắng cũng chẳng oan lắm đâu” không phải là sự đầu hàng, mà là biểu hiện của sự tự ý thức, tinh 
thần phản biện và thái độ sống trung thực với chính mình.
Câu 5 (1,0 điểm)
Từ việc hiểu nội dung văn bản, anh/chị hãy lí giải những khác biệt, đổi thay của hai thế hệ cũ và 
mới: Chúng tôi và bọn hắn.
Đáp án chi tiết
Hai thế hệ “chúng tôi” và “bọn hắn” có nhiều khác biệt:
1. Về quan niệm sống
• Thế hệ cũ (“chúng tôi”): coi trọng tình nghĩa, sự gắn bó, đạo lí, lòng hiếu khách, những giá trị tinh 
thần và trách nhiệm với cộng đồng. 

File đính kèm:

  • docx11_de_thi_thu_tot_nghiep_thpt_2021_2026_mon_van_sgd_son_la_c.docx