Bộ 9 Đề thi thử Ngữ Văn THPT 2023-2026 SGD Ninh Bình (Có đáp án)

I. ĐỌC HIỂU Đọc đoạn trích:

CÒN LẠI GÌ TỪ NĂM MƯỜI TÁM TUỔI

(1) Còn lại gì từ năm mười tám tuổi

Lửa đã tắt và tro đã nguội

Lạc mất mùi hương trên những đóa hồng khô

Năm tháng rơi như là phủ mặt hồ

(2) Còn lại gì ngoài ngôi sao ngày xưa

Dẫu muốn tắt mà không sao tắt được

Rưng rưng mãi mà không tan thành nước

Không phải đau mà có lẽ vẫn còn đau

(3) Khát vọng như gió đã lạc về đâu

Ước mơ như sương dâng thành đêm tối

Biết trách ai ngời hoàng hôn cháy vội

Có giọt nắng nào rơi xuống nở thành hoa

(4) Còn lại gì con đường đã lùi xa

Mỗi bài thơ là một lời ly biệt

Điệu nhạc tắt, chi nỗi buồn da diết

Như dòng tơ xâu chuỗi thời gian

(5) Nắng mùa thu xưa còn giữ lại chút vàng

Dẫu lá rụng mà hình như chưa héo

Cầu vồng ngơ ngác giữa cơn mưa lạc nẻo

Vươn về đâu hun hút những chân trời

(6) Qua biết bao miền đất lạ xa xôi

Nơi cuối đường chính là ta đứng đó

Nơi chân mây là cánh buồm thuở nhỏ

Chở mộng mơ vào đây mắt thẳm xanh

(7) Bao hồi ức xưa bỏ lại không đành

Thì xin nhuộm cho mướt màu cỏ dại

Để tim ta không ngừng đi mãi...

Nơi cuối trời ngôi sao trắng vẫn chờ ta.

(Đinh Hoàng Anh, Những mảnh ghép của huyền thoại, Nguyễn Thanh Tâm tuyển chọn và giới thiệu, NXB Văn học 2024, tr.96-97)

Thực hiện yêu cầu:

Câu 1. Xác định nhân vật trữ tình trong văn bản.

Câu 2. Trong khổ thơ (1), tác giả đã dùng những hình ảnh nào để thể hiện sự tàn phai, mất mát của thời gian?

Câu 3. Nêu ý nghĩa biểu tượng của hình ảnh cánh buồm thuở nhỏ trong khổ thơ (6).

Câu 4. Phân tích hiệu quả của phép lặp cấu trúc được sử dụng trong văn bản.

Câu 5. Nội dung hai câu thơ: Qua biết bao miền đất lạ xa xôi/ Nơi cuối đường chính là ta đứng đó, gợi cho anh/chị suy nghĩ gì về giá trị của những trải nghiệm đối với tuổi trẻ?

Phần II. Viết (6,0 điểm)

Câu 1 (2,0 điểm) Anh/chị hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích tâm trạng nhân vật trữ tình trong khổ thơ sau:

Bao hồi ức xưa bỏ lại không đành Thì xin nhuộm cho mướt màu cỏ dại Để tim ta không ngừng đi mãi...

Nơi cuối trời ngôi sao trắng vẫn chờ ta.

(Còn lại gì từ năm mười tám tuổi - Đinh Hoàng Anh)

Câu 2 (4,0 điểm)) Từ kết quả đọc hiểu văn bản Còn lại gì từ năm mười tám tuổi và những trải nghiệm của bản thân, anh/chị hãyviết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) về vấn đề: tuổi trẻ với việc nuôi dưỡng khát vọng trong hành trình trưởng thành.

docx 70 trang NgocMinh7752 26/05/2026 50
Bạn đang xem 30 trang mẫu của tài liệu "Bộ 9 Đề thi thử Ngữ Văn THPT 2023-2026 SGD Ninh Bình (Có đáp án)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

Tóm tắt nội dung tài liệu: Bộ 9 Đề thi thử Ngữ Văn THPT 2023-2026 SGD Ninh Bình (Có đáp án)

Bộ 9 Đề thi thử Ngữ Văn THPT 2023-2026 SGD Ninh Bình (Có đáp án)
 ĐỀ SỐ 1
 SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO KỲ THI THỬ TỐT NGHIỆP THPT NĂM 2026
 NINH BÌNH MÔN: NGỮ VĂN
 LẦN 1 Thời gian làm bài: ..... phút (Không kể thời gian giao đề)
I. ĐỌC HIỂU Đọc đoạn trích:
 CÒN LẠI GÌ TỪ NĂM MƯỜI TÁM TUỔI 
 (1) Còn lại gì từ năm mười tám tuổi
 Lửa đã tắt và tro đã nguội
 Lạc mất mùi hương trên những đóa hồng khô 
 Năm tháng rơi như là phủ mặt hồ
 (2) Còn lại gì ngoài ngôi sao ngày xưa 
 Dẫu muốn tắt mà không sao tắt được 
 Rưng rưng mãi mà không tan thành nước 
 Không phải đau mà có lẽ vẫn còn đau
 (3) Khát vọng như gió đã lạc về đâu
 Ước mơ như sương dâng thành đêm tối 
 Biết trách ai ngời hoàng hôn cháy vội
 Có giọt nắng nào rơi xuống nở thành hoa
 (4) Còn lại gì con đường đã lùi xa 
 Mỗi bài thơ là một lời ly biệt
 Điệu nhạc tắt, chi nỗi buồn da diết 
 Như dòng tơ xâu chuỗi thời gian
 (5) Nắng mùa thu xưa còn giữ lại chút vàng
 Dẫu lá rụng mà hình như chưa héo
 Cầu vồng ngơ ngác giữa cơn mưa lạc nẻo 
 Vươn về đâu hun hút những chân trời
 (6) Qua biết bao miền đất lạ xa xôi 
 Nơi cuối đường chính là ta đứng đó 
 Nơi chân mây là cánh buồm thuở nhỏ
 Chở mộng mơ vào đây mắt thẳm xanh
 (7) Bao hồi ức xưa bỏ lại không đành 
 Thì xin nhuộm cho mướt màu cỏ dại 
 Để tim ta không ngừng đi mãi...
 Nơi cuối trời ngôi sao trắng vẫn chờ ta.
 (Đinh Hoàng Anh, Những mảnh ghép của huyền thoại, Nguyễn Thanh Tâm tuyển chọn và giới thiệu, 
 NXB Văn học 2024, tr.96-97) Thực hiện yêu cầu:
Câu 1. Xác định nhân vật trữ tình trong văn bản.
Câu 2. Trong khổ thơ (1), tác giả đã dùng những hình ảnh nào để thể hiện sự tàn phai, mất mát của thời 
gian? 
Câu 3. Nêu ý nghĩa biểu tượng của hình ảnh cánh buồm thuở nhỏ trong khổ thơ (6).
Câu 4. Phân tích hiệu quả của phép lặp cấu trúc được sử dụng trong văn bản.
Câu 5. Nội dung hai câu thơ: Qua biết bao miền đất lạ xa xôi/ Nơi cuối đường chính là ta đứng đó, gợi 
cho anh/chị suy nghĩ gì về giá trị của những trải nghiệm đối với tuổi trẻ?
Phần II. Viết (6,0 điểm)
Câu 1 (2,0 điểm) Anh/chị hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích tâm trạng nhân vật trữ 
tình trong khổ thơ sau:
 Bao hồi ức xưa bỏ lại không đành Thì xin nhuộm cho mướt màu cỏ dại Để tim ta không ngừng đi mãi...
Nơi cuối trời ngôi sao trắng vẫn chờ ta.
(Còn lại gì từ năm mười tám tuổi - Đinh Hoàng Anh) 
Câu 2 (4,0 điểm)) Từ kết quả đọc hiểu văn bản Còn lại gì từ năm mười tám tuổi và những trải nghiệm 
của bản thân, anh/chị hãyviết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) về vấn đề: tuổi trẻ với việc nuôi dưỡng 
khát vọng trong hành trình trưởng thành.
 ______________HẾT______________
 • Giám thị không trả lời thêm bất kỳ câu hỏi nào.
 • Thí sinh không được phép sử dụng tài liệu. ĐÁP ÁN
Phần I. Đọc hiểu
Câu 1: Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản và vận dụng kiến thức về nhân vật trữ tình, phân tích 
Cách giải:
Nhân vật trữ tình: “ta”. 
Câu 2:
Phương pháp:
Căn cứ nội dung bài đọc hiểu, tìm ý, phân tích 
Cách giải:
Hình ảnh thể hiện sự tàn phai, mất mát của thời gian: Lửa đã tắt và tro đã nguội; Lạc mất mùi hương trên 
những đóa hồng khô; Năm tháng rơi như lá phủ mặt hồ.
Câu 3: Phương pháp:
Đọc kĩ câu thơ, hình ảnh cánh buồn và phân tích ý nghĩa nội dung 
Cách giải:
- Ý nghĩa biểu tượng của hình ảnh cánh buồm thuở nhỏ:
+ Biểu tượng cho ước mơ, khát vọng đẹp đẽ, tinh khôi thuở thiếu thời của mỗi đời người.
+ Gửi gắm thôngđiệp: khát vọng của tuổi trẻ là hành trangquan trọng, tiếp thêm niềm tin, nghị lực và định 
hướng tương lai cho con người,...
Câu 4: Phương pháp:
Vận dụng kiến thức về các phép lặp và phân tích tác dụng 
Cách giải:
 HS phân tích được hiệu quả của một trong hai phép lặp cấu trúc sau: 
 - Phép lặp cấu trúc: Còn lại gì..., hiệu quả của biện pháp lặp cấu trúc:
+ Tăng tính liên kết; tạo nhịp điệu da diết; giọng điệu day dứt, suy tư cho bài thơ.
+ Nhấn mạnh cảm giác buồn bã, hẫng hụt, tiếc nuối của nhân vật trữ tình khi nhìn lại quá khứ; từ đó nhắc 
nhở mỗi người cần nỗ lực theo đuổi khát vọng ngay từ khi tuổi còn trẻ.
Hoặc:
- Phép lặp cấu trúc: Nơi ..., hiệu quả của biện pháp lặp cấu trúc:
+ Tăng tính liên kết; tạo nhịp điệu chậm rãi, trầm lắng; giọng điệu suy tư cho bài thơ.
+ Nhấn mạnh những “điểm đến” mang ý nghĩa biểu tượng trong hành trình đời người; từ đó gợi chiều sâu 
triết lí: dù đi đến cuối đường, chân mây hay cuối trời, con người vẫn hướng về bản ngã và những giá trị 
bền vững của ký ức, ước mơ.
Câu 5: Phương pháp:
Đọc kĩ 2 ngữ liệu và phân tích 
Cách giải:
Nội dung của hai câu thơ: sau khi đã đi qua hành trình khám phá, trải nghiệm, con người mới nhận ra 
điều quan trọng nhất là tìm thấy chính mình và thấu hiểu mình.
Suy nghĩ: những trải nghiệm phong phú giúp tuổi trẻ trưởng thành, mở rộng tầm nhìn, hiểu biết về thế 
giới và về chính bản thân mình (ước mơ, khát vọng, năng lực...). Phần II. Viết 
Câu 1: Phương pháp:
Vận dụng linh hoạt các thao tác lập luận, phân tích, giải thích, 
Cách giải:
Học sinh triển khai đoạn văn theo trình tự hợp lí và sử dụng đúng các kĩ năng nghị luận; sau đây là gợi ý 
về cách triển khai và một số nội dung cụ thể:
1. Mở đoạn: Giới thiệu chung
2. Thân đoạn:
Phân tích được tâm trạng nhân vật trữ tình trong khổ thơ.
- Nhớ nhung, luyến tiếc quá khứ: hồi ức xưa bỏ lại không đành.
- Khao khát làm cho ký ức trở nên tươi đẹp, sống động hơn: Thì xin nhuộm cho mướt màu cỏ dại.
- Lạc quan, tin tưởng, hướng tới tương lai bằng thái độ sống tích cực: tim ta không ngừng đi mãi...; Nơi 
cuối trời ngôi sao trắng vẫn chờ ta.
...
Đánh giá được tâm trạng nhân vật trữ tình: Nhân vật trữ tình là người sống có trách nhiệm, khát khao 
hoàn thiện bản thân, tâm trạng của nhân vật trữ tình được thể hiện tinh tế qua thể thơ tự do, ngôn ngữ thơ 
trong sáng; hình ảnh thơ giàu ý nghĩa biểu tượng,
3. Kết đoạn: Tổng kết vấn đề 
Câu 2:
Phương pháp:
Vận dụng linh hoạt các thao tác lập luận, phân tích, giải thích, 
Cách giải:
a. Yêu cầu chung: Xác định đúng vấn đề cần nghị luận, đảm bảo yêu cầu về dung lượng
b. Yêu cầu cụ thể: Học sinh triển khai bài viết theo trình tự hợp lí và sử dụng đúng các kĩ năng nghị luận
1. Mở bài: giới thiệu được vấn đề
2. Thân bài
a. Giải thích
- Khát vọng: những mong muốn, hoài bão lớn lao, tích cực hướng đến những giá trị tốt đẹp.
- Hành trình trưởng thành: quá trình mỗi người tự rèn luyện nhân cách, trí tuệ, bản lĩnh để trở thành người 
sống có ích, có trách nhiệm với bản thân, gia đình và xã hội.
b. Phân tích, chứng minh được vấn đề nghị luận.
- Vì sao tuổi trẻ cần nuôi dưỡng khát vọng trong hành trình trưởng thành?
+ Cuộc sống vốn phức tạp và nhiều cám dỗ khiến con người dễ bị lầm đường, lạc lối nên người trẻ cần 
biết nuôi dưỡng khát vọng trong hành trình trưởng thành để không bị mất phương hướng giữa cuộc đời,...
+ Tuổi trẻ đang trong giai đoạn định hướng để hoàn thiện và trưởng thành, vì vậy phải biết nuôi dưỡng 
khát vọng để biến tuổi trẻ thành quãng đời cống hiến nhằm khẳng định giá trị của bản thân và kiến tạo xã 
hội,...
- Việc nuôi dưỡng khát vọng trong hành trình trưởng thành có ý nghĩa như thế nào đối với tuổi trẻ?
+ Giúp tuổi trẻ sống có mục đích, có lý tưởng; tránh lãng phí thời gian vào những việc làm không cần 
thiết... + Là nguồn năng lượng mạnh mẽ giúp tuổi trẻ nuôi dưỡng đam mê và sáng tạo; dám dũng cảm dấn thân, 
không chấp nhận cuộc sống an toàn, tẻ nhạt; tự tin vượt qua khó khăn và cả những thất bại trongquá trình 
trưởng thành;.. + Thúc đẩy mỗi người hành động mạnh mẽ, tận dụng tối đa sức trẻ và khả năng của mình 
để xây dựng và phát triển đất nước.
HS lấy dẫn chứng minh hoạ phù hợp.
c. Mở rộng, nâng cao được vấn đề nghị luận và rút ra bài học. - Mở rộng, nâng cao vấn đề nghị luận:
+Phêphán nhữngbiểuhiệntiêucực: lối sốngthụđộng,thiếumục tiêu, dễdàngbỏcuộc, chạytheo những giátrị 
ảo,... + Phân biệt khát vọng lành mạnh với tham vọng cá nhân vị kỷ.
+ Đối thoại với những quan điểm trái chiều.
- Rút ra bài học: trong quá trình nuôi dưỡng khát vọng, mỗi người trẻ cần xác định mục tiêu rõ ràng; lập 
kế hoạch cụ thể; chủ động học hỏi, dám thử thách và không ngại thất bại; hành động quyết liệt, không trì 
hoãn để biến ước mơ thành hiện thực; kiên trì và bền bỉ; giữ vững tinh thần lạc quan, luôn tin tưởng vào 
bản thân và tương lai;... 
3. Kết bài: Tổng kết vấn đề nghị luận. ĐỀ SỐ 2
 SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO KỲ THI THỬ TỐT NGHIỆP THPT NĂM 2026
 NINH BÌNH MÔN: NGỮ VĂN
 LẦN 2 Thời gian làm bài: ..... phút (Không kể thời gian giao đề)
I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Đọc văn bản sau:
 BƯỚC QUA VÙNG AN TOÀN - LUÔN MUỐN THỬ CÁI MỚI
 Bước qua vùng an toàn là một cụm từ bạn được nghe rất nhiều, đâu đâu cũng thấy. Nhưng vùng 
an toàn là gì thì thực sự không phải ai cũng biết. Chúng ta cần nhận thức rõ điều này để vượt qua sự sợ 
hãi, từ đó mới chính thức bước qua vùng an toàn của bản thân, làm nên điều khác biệt trong công việc 
lẫn cuộc sống.
 Nỗi sợ thất bại có thể là một điều gì đó rất kinh khủng với mỗi người bởi chúng được tạo nên 
từ những thất bại, những tổn thất về vật chất và tinh thần xảy ra trước đó. Để bảo vệ chính mình 
khỏi việc phải đối diện với thất bại, thua cuộc và chịu đựng đã kích, mỗi người thường tự tạo ra 
cho mình một thứ gọi là “vùng an toàn”. Vùng an toàn là cụm từ để chỉ trạng thái tâm lý của một 
người mà ở đó, cảm xúc của họ trở nên thoải mái, thân thuộc với môi trường sống và làm việc xung 
quanh. Ở trong vùng an toàn của chính mình, các hoạt động sống của mỗi cá nhân đều thoải mái và được 
kiểm soát một cách ổn định bởi họ không phải mang theo nhiều áp lực hay phải đối diện sự mạo hiểm. 
Con người trong trạng thái này có thể làm việc để duy trì hiệu suất bình ổn và không bị ảnh hưởng nhiều 
bởi cảm xúc tiêu cực như những rủi ro hay lo lắng đều được giảm thiểu ở mức tối đa. Nói một cách khác, 
vùng này mang lại cho bạn sự ổn định.
 An toàn là vậy, nhưng nó lại chính là vật cản của mỗi cá nhân để đạt được thành tựu trong công 
việc và cuộc sống. Ở trong vùng an toàn, con người không có sự đột phá bởi họ sẽ chỉ lặp đi lặp lại các 
quy trình mà không phải xử lý quá nhiều vấn đề khó khăn. Dần dần, con người sẽ bị mất đi động lực - thứ 
thúc đẩy và như nguồn nhiên liệu để mỗi người tạo ra sự bứt phá, vượt khỏi những ranh giới sẵn có và 
chạm đến đỉnh cao mới.
 Bên trong vùng an toàn, mọi người thường không tham gia vào những trải nghiệm mới hoặc không 
chấp nhận bất kỳ thử thách nào. Họ chỉ tham gia vào các hoạt động quen thuộc, khiến bản thân cảm thấy 
“kiểm soát được” môi trường của mình. Điều đó sẽ khiến họ ngày một thụt lùi, cuộc sống nhàm chán. Do 
vậy, họ cần phải thay đổi và thay đổi từ từng bước nhỏ.
 (Nguyễn Anh Dũng, Trích Bước qua vùng an toàn - luôn muốn thử cái mới, Tư duy mở, NXB Dân Trí, 
 2024, tr.63-65)
Thực hiện yêu cầu:
Câu 1. Theo đoạn trích, chúng ta cần nhận thức rõ về vùng an toàn để làm gì?
Câu 2. Xác định thao tác nghị luận chính được sử dụng trong các câu văn in đậm.
Câu 3. Việc tác giả so sánh động lực như nguồn nhiên liệu có tác dụng gì?
Câu 4. Đánh giá sự phù hợp giữa nội dung nghị luận và nhan đề của văn bản. Câu 5. Lời khuyên: cần phải thay đổi và thay đổi từ từng bước nhỏ ở cuối văn bản có ý nghĩa gì đối với 
một người đang muốn bước qua vùng an toàn của chính mình?
II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1 (2,0 điểm)
 Từ góc nhìn của người trẻ, anh/chị hãy viết đoạn văn nghị luận khoảng 200 chữ bày tỏ suy nghĩ về 
những việc cần làm để bước qua vùng an toàn của bản thân nhằm đạt được thành tựu trong cuộc sống.
Câu 2 (4,0 điểm)
 Anh/Chị hãy viết bài văn nghị luận khoảng 600 chữ so sánh, đánh giá nhân vật người cha trong hai 
đoạn trích sau:
 Đoạn trích (1):
 [Tóm tắt bối cảnh: Nhà tôi có bốn người. Cha tôi thế hệ 5X, hơn bốn mươi năm mặc áo nhà binh, 
thỉnh thoảng mới về nhà. Mẹ thế hệ 6X, làm chủ cửa hàng mỹ phẩm Hàn Quốc, để con cái sống tự do 
theo ý thích. Chị Mai tôi thế hệ 7X, đi làm cho một doanh nghiệp Nhật Bản. Tôi, thế hệ 8X, tốt nghiệp 
phổ thông hạng làng nhàng. Cha tôi về hưu, mang nguyên phong cách sống của vị đại tá tại ngũ về nhà và 
khiến cuộc sống của cả gia đình đảo lộn...]
 Tuy có ca thán về cha, nhưng chị Mai thương cha vô cùng. Cái dạo chị mới năm sáu tuổi, cha về 
phép. Một cái khung xe đạp, một con búp bê tóc vàng, vài mảnh vải cho vợ con; vậy mà cả nhà vẫn đầm 
ấm, hạnh phúc, vui vẻ. Cha rất quý con gái. Ngày ấy, gia đình tôi chưa chuyển lên Hà Nội ở. Chiều 
chiều, cha tôi dẫn con gái đi dọc triền đê nhìn đồng quê sông nước. Hình ảnh cha vận sắc phục nhà binh, 
đeo quân hàm đỏ chói, bàn tay to dày thô dắt đứa con gái nhỏ bé lích chích đi tha thẩn, nhẩn nha, thanh 
bình trên triền đê đầy hoa cỏ may cứ đi theo chị tôi suốt tuổi thơ đến bây giờ. Nhưng, ám ảnh, sợ hãi nhất 
là khi cha khoác ba lô trả phép. [...]. Con gái và cha vừa ấm hơi, quen nhau thì cha đã ra đi. Cha không 
muốn mẹ đưa ra tận ga tàu, cha sợ những giọt nước mắt sụt sùi. Mẹ và chị tôi tiễn chân cha ra đầu làng. 
Cha âu yếm nhìn vợ, rồi ôm hôn con gái, cha bảo mẹ tôi: “Em và con về đi”. Cha thả con gái xuống và 
quay lưng rảo bước, những bước chân dài đạp trên đá mặt rào rạo, vội vã, thỉnh thoảng quay lại vẫy vẫy 
tay. Bỗng chị tôi khóc thét lên và cún cút chạy theo cha. Cha tôi quay lại ôm choàng lấy con gái. Nước 
mắt chị tôi nhoen nhoét vào gương mặt dãi dầu từng trải của cha. Mẹ tôi bảo: “Hay anh ở lại, mai hãy 
đi”. Cha tôi bảo: “Em đừng buồn. Anh mà ở lại thì anh không đi được nữa. Thôi nào con, cho bố đi 
nào”. Cha chuyển tay trao con gái cho vợ rồi quay gót. Lần này, bước chân ông quả quyết, thật nhanh, 
không ngoái đầu nhìn lại. Mẹ và chị tôi thấm thùi khóc nhìn bóng cha tôi cứ xa dần, mờ dần.
 (Sương Nguyệt Minh, Trích Cha tôi, Tập truyện ngắn Dị hương, NXB Hội nhà văn, 2009, tr.165-166)
 Đoạn trích (2):
 [Tóm tắt bối cảnh: Cha tôi đã già, đã có một vị trí ít ai dám mơ tới trong văn học nhưng không lúc 
nào thảnh thơi. Mỗi ngày, cha dậy từ bốn giờ sáng chuẩn bị cơm nước cho cả nhà, tranh thủ học trước giờ 
ăn sáng, sau đó ngồi vào bàn viết. Cha luôn tất bật nhưng vẫn dành thời gian để giảng bài cho tôi và làm 
vườn. Tôi quá quen với những việc li ti ấy mà thường không biết cha có thể làm những việc lớn lao như 
thế nào...]
Thỉnh thoảng, tôi đi theo cha đến các hội nghị hoặc các lớp học cha giảng thơ văn. Ở đấy, người ta dành 
cho cha tôi ghế hàng đầu, rồi các cô, các chú đến chào, nhắc về vài bài viết, hay quyển sách mới của cha, 
tôi nghe và lần nào cũng lặp lại cái ý nghĩ: “Tệ thật! Mình chẳng biết gì về cha cả!”. Khi ấy, tôi theo cha chỉ để đi chơi, cũng không để ý cha tôi giảng bài gì, phát biểu điều gì, chỉ để ý cha đã chải đầu chưa, cổ 
áo đã bẻ xuống chưa, có quên kính không... Trong những chuyện này, cha nhất nhất nghe tôi. Một lần khi 
tôi học lớp năm, theo cha tôi xuống Cổ Cò, người ta đón bằng một bữa tiệc, cha tôi uống rượu, thỉnh 
thoảng hỏi tôi: “Mặt cha đỏ chưa?” Tôi bảo: “Chưa!”, mấy phút sau lại nghiêm mặt bảo cha: “Đỏ rồi! 
Cha đừng uống nữa!” và cha tôi ngưng liền.
 Cha tôi nóng tính, điều đó ai cũng nói. Ở nhà không ai dám đùa với cha, ngoài chị Thắm. Chị là 
người duy nhất nhớ cha tôi dịch hộ bài học rồi ngang nhiên ngủ gật ngay bên cạnh. Chị Thắm cũng là 
người duy nhất biết nhổ tóc sâu và lấy ráy tai, và làm cũng tùy hứng, bất kể lúc đó cha tôi đang bận bịu 
đọc sách hay học bài. Ra trường, chị đi thực tập một năm ở An Giang, lâu lâu mới về một lần, thời gian 
đó, tóc cha tôi bạc hẳn. Tôi nhớ, khi chị đi được mấy ngày, một buổi tối, người yêu chị thăm về, tả lại cho 
cha tôi nghe cái cảnh lạ nước lạ cái của chị dưới quê, cha bảo: “Tội nghiệp!”. Rồi hai người sụt sịt khóc, 
khi ấy, hai mẹ con tôi thấy cha thật là ủy mị!
 (Phan Thị Vàng Anh, Trích Cha tôi, Truyện ngắn bốn cây bút nữ, NXB Văn học, 2002, tr.15-16)
 -----HẾT----- ĐÁP ÁN
STT Nội dung
 Đáp án được xây dựng theo yêu cầu đánh giá năng lực nên giám khảo cần tập trung xem xét 
1 phương hướng và cách thức giải quyết vấn đề của thí sinh; chú ý đánh giá nội dung bài làm theo 
 hướng mở, khuyến khích sáng tạo, tránh áp đặt.
 Đối với những bài làm có ý tưởng riêng và cách diễn đạt, triển khai khác Đáp án, giám khảo cần 
2
 xem xét tính thuyết phục của bài viết để đánh giá điểm hợp lí theo các mức độ bài làm đạt được.
 Khi chấm bài, giám khảo cần đánh giá bao quát cả nội dung và hình thức; phát hiện và chấm điểm 
3
 đúng những bài viết có cá tính, sáng tạo, chân thực và trong sáng.
HƯỚNG DẪN CỤ THỂ
Phần Câu Nội dung Điểm
I Đọc hiểu 4,0
 Chúng ta cần nhận thức rõ về vùng an toàn để vượt qua sự sợ hãi, từ đó mới chính 
 thức bước qua vùng an toàn của bản thân, làm nên điều khác biệt trong công việc 
 lẫn cuộc sống.
I 1 0,5
 Hướng dẫn chấm:
 - Trả lời như đáp án hoặc diễn đạt tương đương: 0,5 điểm.
 Thao tác nghị luận chính: giải thích.
I 2 0,5
 Hướng dẫn chấm:
 - Trả lời đúng như đáp án: 0,5 điểm.
 Tác dụng:
 - Giúp câu văn trở nên giàu hình ảnh, sinh động, hấp dẫn; tăng sức gợi hình, gợi 
 cảm.
 - Khẳng định động lực chính là “nhiên liệu”, sức mạnh cốt lõi để thúc đẩy con 
 người tạo ra sự bứt phá, vượt khỏi những ranh giới sẵn có và chạm đến đỉnh cao 
 mới. Nếu thiếu đi sự thúc đẩy này, cá nhân sẽ rơi vào trạng thái trì trệ, giống như 
 một cỗ máy cạn nhiên liệu.
 - Qua đó, tác giả gửi gắm thông điệp: hãy tự tìm kiếm “nhiên liệu” cho mình thông 
I 3 1,0
 qua những trải nghiệm và thử thách mới, tránh để bản thân rơi vào trạng thái “cạn 
 kiệt năng lượng” và nhàm chán khi chỉ giam mình trong vùng an toàn.
 Hướng dẫn chấm:
 - Trả lời như đáp án hoặc diễn đạt tương đương: 1,0 điểm.
 - Trả lời được ý thứ nhất: 0,25 điểm.
 - Trả lời được ý thứ hai: 0,5 điểm.
 - Trả lời được ý thứ ba: 0,25 điểm. Phần Câu Nội dung Điểm
 - Nội dung nghị luận: bàn về tính ổn định, quen thuộc của vùng an toàn và những 
 hệ lụy của việc duy trì trạng thái này quá lâu; qua đó, văn bản khẳng định sự cần 
 thiết cần bước ra khỏi vùng an toàn để phát triển bản thân và đạt được những thành 
 tựu mới trong cuộc sống.
 - Nhan đề của văn bản: khẳng định hành động cần chủ động thoát khỏi trạng thái ổn 
 định, cũ kĩ để tìm tòi, khám phá những điều mới lạ, từ đó phá vỡ các giới hạn của 
 bản thân.
 - Đánh giá sự phù hợp giữa nội dung nghị luận và nhan đề của văn bản:
 + Nhan đề đã khái quát vấn đề nghị luận, từ đó tạo cơ sở để triển khai mạch ý trong 
I 4 1,0
 nội dung văn bản.
 + Nội dung văn bản đã làm rõ vấn đề đưa ra trong nhan đề.
 Hướng dẫn chấm:
 - Trả lời được như đáp án hoặc diễn đạt tương đương: 1,0 điểm.
 - Nêu được nội dung nghị luận: 0,25 điểm.
 - Nêu được ý nghĩa nhan đề của văn bản: 0,25 điểm.
 - Đánh giá được sự phù hợp giữa nội dung nghị luận và nhan đề của văn bản: 0,5 
 điểm, mỗi ý 0,25 điểm.
 - Lời khuyên: cần phải thay đổi và thay đổi từ từng bước nhỏ khẳng định: cần phải 
 thay đổi và hãy kiên trì thay đổi từng chút một để có thể bước ra khỏi vùng an toàn.
 - Ý nghĩa đối với một người đang muốn bước qua vùng an toàn của chính mình: 
 giảm bớt áp lực và nỗi sợ hãi; xây dựng niềm tin và sự tự tin; tạo động lực để bắt 
 đầu từ những hành động nhỏ, từng bước vượt qua giới hạn của bản thân.
I 5 1,0
 Hướng dẫn chấm:
 - Trả lời như đáp án hoặc diễn đạt tương đương: 1,0 điểm.
 - Nêu được nội dung lời khuyên: 0,25 điểm.
 - Nêu được ý nghĩa: 0,75 điểm.
II Viết 6,0
 Từ góc nhìn của người trẻ, anh/chị hãy viết đoạn văn nghị luận khoảng 200 
II 1 chữ bày tỏ suy nghĩ về những việc cần làm để bước qua vùng an toàn của bản 2,0
 thân nhằm đạt được thành tựu trong cuộc sống.
 a. Yêu cầu chung: xác định đúng vấn đề nghị luận; đảm bảo yêu cầu về hình thức, 
 dung lượng của đoạn văn.
 - Vấn đề nghị luận: những việc cần làm để bước qua vùng an toàn của bản thân 
II 1 0,5
 nhằm đạt được thành tựu trong cuộc sống.
 - Hình thức: có thể trình bày đoạn văn theo lối diễn dịch, quy nạp, tổng hợp, song 
 song,...

File đính kèm:

  • docxbo_9_de_thi_thu_ngu_van_thpt_2023_2026_sgd_ninh_binh_co_dap.docx