4 Đề thi thử tốt nghiệp THPT 2022-2026 môn Văn SGD Cao Bằng (Có đáp án)
Đọc đoạn trích:
[...]
Gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi
Chưa xóm mạc đã bắt đầu ngọn gió
Thổi không yên suốt chiều dài lịch sử
Qua đất đai và đời sống con người.
Gió gieo tung những hạt giống trên tay
Giọt nước mắt mau khô, tiếng gọi đò vọng mãi
Vầng trán với bể khơi chung gió ấy
Ở nơi đâu cũng tới được chân trời.
Gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi
Như tiếng gọi ngàn đời không khuất phục
Đất nước giống con thuyền xuyên gió mạnh
Những mối tình trong gió bão tìm nhau.
Qua mọi điều, ngọn gió có qua đâu
Luôn luôn ra đi, luôn luôn mới đến
Thơ em viết về một vùng cát biển
Cỏ mặt trời trong lốc bụi lăn đi...
Đã có lần tôi muốn nguôi yên
Khép cánh cửa lòng mình cho gió lặng
Nhưng vô ích làm sao quên được
Những yêu thương khao khát của đời tôi.
Tôi thở trong sức gió muốn người
Mùa gió mới nhờ em tôi có lại
Bài hát cũ tôi hát cùng đồng đội
Lại dập dồn như gió khắp rừng khuya.
Dẫu đêm nay ngọn gió mùa hè
Còn bề bộn một vùng gạch ngói
Lịch sử quay những vòng xoáy gian nan
Đất nước tôi như một con thuyền
Lướt trên sóng những ngực buồm trắng xóa.
Ước chi được hóa thành ngọn gió
Để được ôm trọn vẹn nước non này
Để thổi ấm những đỉnh đèo buốt giá
Để mát rượi những mái nhà nắng lửa
Để luôn luôn được trở lại với đời...
Gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi...
(Trích Gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi, Tuyển thơ Lưu Quang Vũ,
NXB Hội Nhà văn, 2021, tr. 171-173)
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1. Chỉ ra dấu hiệu để xác định thể thơ của đoạn trích.
Câu 2. Xác định hình ảnh được sử dụng để so sánh với đất nước trong đoạn trích.
Câu 3. Trình bày hiệu quả của việc sử dụng phép điệp dòng thơ Gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi trong đoạn trích.
Câu 4. Nêu sự vận động cảm xúc của nhân vật trữ tình tôi trong đoạn trích.
Câu 5. Hai ngữ liệu sau đây có sự tương đồng nào về ý nghĩa:
- Đất nước tôi như một con thuyền
Lướt trên sóng những ngực buồm trắng xóa.
(Gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi – Lưu Quang Vũ)
- Đất nước như vì sao
Cứ đi lên phía trước
(Mùa xuân nho nhỏ – Thanh Hải)
Tóm tắt nội dung tài liệu: 4 Đề thi thử tốt nghiệp THPT 2022-2026 môn Văn SGD Cao Bằng (Có đáp án)
ĐỀ SỐ 1
KỲ THI THỬ TỐT NGHIỆP THPT NĂM 2026
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
MÔN: NGỮ VĂN
CAO BẰNG
Thời gian làm bài: ..... phút (Không kể thời gian giao đề)
I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Đọc đoạn trích:
[...] Đã có lần tôi muốn nguôi yên
Gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi Khép cánh cửa lòng mình cho gió lặng
Chưa xóm mạc đã bắt đầu ngọn gió Nhưng vô ích làm sao quên được
Thổi không yên suốt chiều dài lịch sử Những yêu thương khao khát của đời tôi.
Qua đất đai và đời sống con người. Tôi thở trong sức gió muốn người
Gió gieo tung những hạt giống trên tay Mùa gió mới nhờ em tôi có lại
Giọt nước mắt mau khô, tiếng gọi đò vọng mãi Bài hát cũ tôi hát cùng đồng đội
Vầng trán với bể khơi chung gió ấy Lại dập dồn như gió khắp rừng khuya.
Ở nơi đâu cũng tới được chân trời. Dẫu đêm nay ngọn gió mùa hè
Gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi Còn bề bộn một vùng gạch ngói
Như tiếng gọi ngàn đời không khuất phục Lịch sử quay những vòng xoáy gian nan
Đất nước giống con thuyền xuyên gió mạnh Đất nước tôi như một con thuyền
Những mối tình trong gió bão tìm nhau. Lướt trên sóng những ngực buồm trắng xóa.
Qua mọi điều, ngọn gió có qua đâu Ước chi được hóa thành ngọn gió
Luôn luôn ra đi, luôn luôn mới đến Để được ôm trọn vẹn nước non này
Thơ em viết về một vùng cát biển Để thổi ấm những đỉnh đèo buốt giá
Cỏ mặt trời trong lốc bụi lăn đi... Để mát rượi những mái nhà nắng lửa
Để luôn luôn được trở lại với đời...
Gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi...
(Trích Gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi, Tuyển thơ Lưu Quang Vũ,
NXB Hội Nhà văn, 2021, tr. 171-173)
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1. Chỉ ra dấu hiệu để xác định thể thơ của đoạn trích.
Câu 2. Xác định hình ảnh được sử dụng để so sánh với đất nước trong đoạn trích.
Câu 3. Trình bày hiệu quả của việc sử dụng phép điệp dòng thơ Gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi
trong đoạn trích.
Câu 4. Nêu sự vận động cảm xúc của nhân vật trữ tình tôi trong đoạn trích.
Câu 5. Hai ngữ liệu sau đây có sự tương đồng nào về ý nghĩa:
- Đất nước tôi như một con thuyền
Lướt trên sóng những ngực buồm trắng xóa.
(Gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi – Lưu Quang Vũ) - Đất nước như vì sao
Cứ đi lên phía trước
(Mùa xuân nho nhỏ – Thanh Hải)
II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1 (2,0 điểm)
Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích hình tượng gió qua cảm nhận của nhân vật trữ tình
tôi trong đoạn trích ở phần Đọc hiểu.
Câu 2 (4,0 điểm)
Từ kết quả đọc hiểu đoạn trích Gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi cùng hiểu biết về bối cảnh đất nước
đang có nhiều thay đổi lớn lao để bước vào kỷ nguyên mới, anh/chị hãy viết bài văn nghị luận (khoảng
600 chữ) với chủ đề: Tuổi trẻ và kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Hết
- Thí sinh không được sử dụng tài liệu.
- Giám thị không giải thích gì thêm. HƯỚNG DẪN CHẤM
I. LƯU Ý CHUNG
1. Đáp án được xây dựng theo yêu cầu đánh giá năng lực nên giám khảo cần tập trung xem xét phương
hướng và cách thức giải quyết vấn đề của thí sinh; chú ý đánh giá nội dung bài làm theo hướng mở,
khuyến khích sáng tạo, tránh áp đặt.
2. Giám khảo tuân thủ Đáp án, không tự xây dựng đáp án khác. Đối với những bài làm có ý tưởng riêng
và cách diễn đạt, triển khai khác với Đáp án, giám khảo cần xem xét tính thuyết phục của bài viết để
chấm điểm hợp lí.
3. Khi chấm bài, giám khảo đánh giá bao quát cả nội dung và hình thức; phát hiện và chấm điểm đúng
những bài viết có cá tính, sáng tạo, chân thực và trong sáng; đối với những câu trả lời sai hoặc không trả
lời thì chấm điểm 0.
II. ĐÁP ÁN
PhầnCâu Nội dung Điểm
ĐỌC HIỂU 4,0
Số chữ trong các dòng không bằng nhau là dấu hiệu để xác định thể thơ tự do của đoạn
1 0,5
trích.
2 Hình ảnh được sử dụng để so sánh với đất nước: con thuyền/một con thuyền. 0,5
Hiệu quả của việc sử dụng phép điệp dòng thơ Gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi:
- Góp phần tạo nhạc điệu tha thiết và sự liên kết chặt chẽ về nội dung cho đoạn thơ.
3 - Gợi ấn tượng sâu sắc về sự lan tỏa muôn đời của gió và tình yêu trên khắp đất nước tôi, 1,0
I
từ đó thổi lên trong tâm hồn tôi tình yêu và khát vọng được gắn bó, được hiến dâng cho
đất nước.
Sự vận động cảm xúc của nhân vật trữ tình tôi:
4 - Những cảm nhận sâu lắng về gió và tình yêu gắn với không gian, lịch sử của đất nước. 1,0
- Khát vọng được hóa thành ngọn gió để được hòa nhập, cống hiến cho đất nước.
Điểm tương đồng:
5 - Khắc họa vẻ đẹp vừa lãng mạn, vừa hào hùng của đất nước. 1,0
- Thể hiện tình yêu, niềm tin vào sự phát triển mạnh mẽ của đất nước.
Nội dung
VIẾT 6,0
a. Yêu cầu chung: xác định đúng vấn đề nghị luận; bảo đảm yêu cầu về hình thức, dung
lượng của đoạn văn.
- Vấn đề nghị luận: hình tượng gió qua cảm nhận của nhân vật trữ tình tôi.
0,5
II - Hình thức: có thể trình bày đoạn văn theo cách diễn dịch, quy nạp, phối hợp, móc xích
1
hoặc song hành.
- Dung lượng: khoảng 200 chữ.
b. Yêu cầu cụ thể: thí sinh triển khai đoạn văn theo trình tự hợp lí và sử dụng đúng các
kĩ năng nghị luận. b1. Phân tích hình tượng gió qua những bằng chứng lấy từ văn bản đọc hiểu
- Gió là hình tượng xuyên suốt, bao trùm đoạn thơ; gắn bó, song hành trong suốt chiều
1,0
dài lịch sử và tương lai tươi sáng của đất nước tôi.
- Tôi muốn hóa thân thành gió để được đồng hành và bảo vệ đất nước.
b2. Đánh giá được giá trị của hình tượng gió
Gió là một hình tượng thơ đặc sắc gợi vẻ đẹp vừa giản dị, vừa hùng vĩ, bất khuất của non
0,25
sông đất nước. Qua hình tượng gió, nhà thơ bộc lộ tình yêu tha thiết và khát vọng được
dâng hiến cho đất nước luôn tươi đẹp, trường tồn.
b3. Sáng tạo
- Có những ý đột phá, vượt ra ngoài Đáp án nhưng có sức thuyết phục. 0,25
- Có cách diễn đạt tinh tế, độc đáo.
a. Yêu cầu chung: xác định đúng vấn đề nghị luận; bảo đảm yêu cầu về dung lượng và
sử dụng bằng chứng.
- Vấn đề nghị luận: Tuổi trẻ và kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. 1,0
- Dung lượng: khoảng 600 chữ.
- Bằng chứng: thực tế đời sống và văn bản ở phần Đọc hiểu.
b. Yêu cầu cụ thể: thí sinh triển khai bài viết theo trình tự hợp lí và sử dụng đúng các kĩ
3,0
năng nghị luận.
b1. Viết được mở bài và kết bài cho bài văn nghị luận xã hội
- Mở bài: giới thiệu được vấn đề nghị luận. 0,5
- Kết bài: khẳng định được vấn đề nghị luận.
b2. Giải thích được vấn đề nghị luận
- Tuổi trẻ: là độ tuổi thanh niên, thiếu niên - giai đoạn tràn đầy năng lượng, nhiệt huyết,
khát vọng, sự sáng tạo và có tiềm năng phát triển cao nhất trong cuộc đời mỗi người.
2 - Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc: thời kì bứt phá và phát triển mạnh mẽ của dân tộc
0,5
để đạt được những thành tựu vĩ đại khẳng định vị thế, uy tín của dân tộc trên trường quốc
tế.
-> Vai trò, trách nhiệm của tuổi trẻ trong kỷ nguyên tạo ra bước ngoặt vĩ đại trong tiến
trình lịch sử của dân tộc ta.
b3. Phân tích, chứng minh được vấn đề nghị luận
- Bối cảnh quốc tế và trong nước để Việt Nam bước vào kỷ nguyên vươn mình: toàn cầu
hoá, hội nhập quốc tế, kỷ nguyên số và khoa học công nghệ phát triển vượt bậc đặt ra
những thời cơ và thách thức đối với mỗi quốc gia; cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc
tế của nước ta hiện nay. 1,0
- Vai trò, trách nhiệm của tuổi trẻ trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc: lực lượng tiên
phong, sáng tạo, dám đương đầu với thử thách, dấn thân để kiến tạo những giá trị lớn
góp phần tạo nên sự phát triển mang tính bứt phá vươn tới vị thế của một quốc gia hùng
cường.
b4. Mở rộng, nâng cao được vấn đề nghị luận và rút ra bài học 0,5 - Mở rộng, nâng cao vấn đề nghị luận: phê phán một bộ phận người trẻ sống thờ ơ, thiếu
mục tiêu, lười học tập, ngại rèn luyện, chạy theo lối sống hưởng thụ, lệ thuộc công nghệ,
không có những đóng góp tích cực để đất nước vươn mình.
- Rút ra bài học: trong bối cảnh mới, mỗi người trẻ cần nâng cao nhận thức, có hành
động thiết thực, thể hiện trách nhiệm công dân với quê hương, đất nước trong kỷ nguyên
mới.
b5. Sáng tạo
- Có những ý đột phá, vượt ra ngoài Đáp án nhưng có sức thuyết phục. 0,5
- Có cách diễn đạt tinh tế, độc đáo.
Tổng điểm 10,0 ĐỀ SỐ 2
KỲ THI THỬ TỐT NGHIỆP THPT NĂM 2025
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
MÔN: NGỮ VĂN
CAO BẰNG
Thời gian làm bài: ..... phút (Không kể thời gian giao đề)
I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Đọc văn bản:
Tặng cho ba con gái, nhưng riêng tặng
Vàng Anh là đứa làm thơ
C.L.V
Cẩn thận nhé! Cẩn thận nhé!
Kẻo rồi có lúc mùa vải đỏ và chim tu hú
Đến lúc nào, đi lúc nào, ta không biết.
Trời xanh, hoa mai, chim nhạn ...
Về lúc nào, đi lúc nào
Ta chẳng hay cho!
Ta cúi xuống đất
Hí hửng nhặt tìm từng cái kim rơi vụn vặt
Mà để lồng lộng trên cao
Những mùa trái, mùa chim bay mất,
Những mùa yêu, mùa hạnh phúc bay vèo!
Chim tu hú có cần đâu
Ta nghe nó hay không nghe nó.
Nghe nó, ta thành tình nhân, thi nhân,
triết học ...
Còn nếu như không nghe
Mà ù ù cạc cạc
Thì hết mùa vải này vẫn còn mùa vải khác
Bên sông đỏ rực
Bất cần ta, vải chín đón chim về
Bệnh viện Chợ Rẫy 9 – 1988
(Tu hú có cần đâu, Chế Lan Viên, Đến với thơ Chế Lan Viên,
NXB Thanh niên, năm 2000, tr.259 - 260)
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1. Chỉ ra dấu hiệu để xác định thể thơ của văn bản.
Câu 2. Xác định 01 biện pháp tu từ được sử dụng trong văn bản. Câu 3. Trong bài thơ, những hình ảnh mùa vải đỏ, chim tu hú, hoa mai, chim nhạn có ý nghĩa gì?
Câu 4. Hãy phát biểu một cách ngắn gọn về chủ đề của bài thơ.
Câu 5. Anh/chị suy nghĩ như thế nào về tâm niệm mà chủ thể trữ tình gửi gắm trong những câu thơ dưới
đây?
Chim tu hú có cần đâu
Ta nghe nó hay không nghe nó.
Nghe nó, ta thành tình nhân, thi nhân,
triết học ...
Còn nếu như không nghe
Mà ù ù cạc cạc
Thì hết mùa vải này vẫn còn mùa vải khác
Bên sông đỏ rực
Bất cần ta, vải chín đón chim về
II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1 (2,0 điểm)
Viết một đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trình bày cảm nhận của anh/chị về chủ thể trữ tình trong
bài thơ Tu hú có cần đâu (Chế Lan Viên).
Câu 2 (4,0 điểm)
Trong cuộc sống, ta cần hướng đến những điều lớn lao hay cần chú tâm vào những điều nhỏ bé?
Anh/chị hãy viết một bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) để trả lời câu hỏi đó.
----------------HẾT----------------
- Thí sinh không được sử dụng tài liệu.
- Giám thị không giải thích gì thêm. HƯỚNG DẪN GIẢI
I. ĐỌC HIỂU
Câu 1:
- Thể thơ: Tự do.
- Dấu hiệu nhận biết:
- Số lượng chữ trong mỗi dòng thơ không cố định (có câu 4 chữ, câu 7 chữ, câu 9 chữ, câu 10 chữ...).
- Cách ngắt nhịp linh hoạt, không tuân theo các quy tắc khắt khe về vần và đối của các thể thơ truyền
thống.
Câu 2:
* Học sinh có thể chọn một trong các biện pháp sau:
- Điệp ngữ: "Cẩn thận nhé!", "Về lúc nào, đi lúc nào".
- Liệt kê: "mùa vải đỏ và chim tu hú", "Trời xanh, hoa mai, chim nhạn", "Những mùa trái, mùa chim bay
mất / Những mùa yêu, mùa hạnh phúc bay vèo!".
- Ẩn dụ: "những cái kim rơi vụn vặt" (chỉ những lo toan đời thường, nhỏ nhặt khiến con người quên đi vẻ
đẹp lớn lao của cuộc sống).
Câu 3:
- Về nghĩa thực: Đây là những tín hiệu đặc trưng của thiên nhiên, của các mùa trong năm (mùa vải đỏ,
chim tu hú báo hiệu mùa hè; hoa mai, chim nhạn báo hiệu mùa xuân).
- Về nghĩa biểu tượng: Chúng đại diện cho vẻ đẹp tinh túy của đất trời, sự vận động của thời gian và
những giá trị tinh thần quý giá, tốt đẹp trong cuộc sống mà con người đôi khi vô tình lãng quên.
Câu 4:
Chủ đề: Bài thơ là lời nhắc nhở con người cần có sự tỉnh thức để trân trọng từng khoảnh khắc của cuộc
sống, đừng vì mải mê theo đuổi những giá trị nhỏ nhặt, tầm thường mà bỏ lỡ đi vẻ đẹp lớn lao của thiên
nhiên, tình yêu và hạnh phúc.
Câu 5:
Tâm niệm của chủ thể trữ tình gợi ra những suy nghĩ sâu sắc về thái độ sống và khả năng cảm nhận:
- Vẻ đẹp khách quan: Thiên nhiên và những giá trị tốt đẹp (tiếng chim tu hú, mùa vải chín) vẫn tồn tại
khách quan, không phụ thuộc vào việc con người có chú ý hay không ("Chim tu hú có cần đâu").
- Sự khác biệt trong tâm hồn: Nếu ta mở lòng lắng nghe và cảm nhận bằng tâm hồn nhạy cảm, ta sẽ nâng
tầm bản thân mình lên mức độ cao hơn của cảm xúc và trí tuệ ("thành tình nhân, thi nhân, triết học").
- Sự vô tâm và mất mát: Ngược lại, nếu sống vô tâm ("ù ù cạc cạc", "bất cẩn"), ta sẽ để thời gian trôi qua
vô nghĩa. Dù thiên nhiên có tuần hoàn ("hết mùa vải này vẫn còn mùa vải khác"), nhưng sự giàu có trong
tâm hồn của chúng ta sẽ bị bào mòn và ta sẽ bỏ lỡ những giá trị cốt lõi của hạnh phúc.
- Thông điệp: Hãy sống chậm lại, lắng nghe và trân trọng những vẻ đẹp bình dị nhưng kỳ diệu của cuộc
sống để làm phong phú tâm hồn mình.
-> Tham khảo đoạn văn trả lời sau: Những câu thơ gửi gắm tâm niệm sâu sắc của chủ thể trữ tình về cách
sống và cách cảm nhận cuộc đời. Chim tu hú và mùa vải chín là những giá trị đẹp đẽ của đời sống, nhưng
chúng chỉ thực sự có ý nghĩa khi con người biết lắng nghe, biết cảm nhận bằng trái tim và tâm hồn. Nếu
mải mê với những điều vụn vặt, tầm thường, con người sẽ vô tình bỏ lỡ những khoảnh khắc quý giá của yêu thương và hạnh phúc. Qua đó, bài thơ nhắc nhở mỗi người cần sống tỉnh thức, trân trọng hiện tại và
nuôi dưỡng đời sống tinh thần phong phú để không đánh mất những mùa đẹp của cuộc đời mình.
II. VIẾT
Câu 1.
* Các tiêu chí cần đạt
1. Bảo đảm yêu cầu về hình thức, dung lượng của đoạn văn (0.3 điểm)
+ Bảo đảm yêu cầu về hình thức và dung lượng (khoảng 200 chữ) của đoạn văn. Thí sinh có thể trình bày
đoạn văn theo cách diễn dịch, quy nạp, phối hợp, móc xích hoặc song hành.
2. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận (0.3 điểm)
- Chủ thể trữ tình trong bài thơ Tu hú có cần đâu: một cái tôi suy tư, tỉnh táo, giàu trải nghiệm, ý thức sâu
sắc về đời sống tinh thần và giá trị của việc lắng nghe, cảm nhận cuộc sống.
3. Viết đoạn văn bảo đảm các yêu cầu (1.0 điểm)
- Nội dung trọng tâm:
+ Chủ thể trữ tình có ý thức tự phản tỉnh
+ Trăn trở trước cách sống hời hợt, vô tâm
+ Đề cao đời sống tinh thần, sự lắng nghe, tỉnh thức
4. Diễn đạt (0.3 điểm)
- Bảo đảm chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết câu.
5. Sáng tạo (0.3 điểm)
- Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận, có cách diễn đạt mới mẻ.
* Bài tham khảo
Chủ thể trữ tình trong bài thơ Tu hú có cần đâu hiện lên như một cái tôi giàu suy tư, tỉnh táo và sâu sắc
trong cách cảm nhận cuộc sống. Đó là một con người từng trải, có ý thức tự vấn về cách sống của chính
mình và của con người nói chung trước vẻ đẹp của đời sống. Qua những hình ảnh quen thuộc như chim
tu hú, mùa vải đỏ, hoa mai, chim nhạn, chủ thể trữ tình không chỉ gợi ra vẻ đẹp của thiên nhiên mà còn
gửi gắm trăn trở về thái độ sống của con người. Những vẻ đẹp ấy vốn vẫn tồn tại, vẫn vang lên và tỏa
sáng, nhưng sẽ trở nên vô nghĩa nếu con người sống hời hợt, vô tâm, không biết lắng nghe và cảm nhận
bằng trái tim. Chủ thể trữ tình vì thế mang tâm thế của người tỉnh thức, đề cao đời sống tinh thần, coi
trọng sự rung cảm trước những giá trị giản dị nhưng bền vững của cuộc sống. Qua hình tượng cái tôi trữ
tình này, bài thơ nhắc nhở con người cần sống chậm lại, biết trân trọng những “mùa đẹp” của đời sống,
từ đó nuôi dưỡng tâm hồn phong phú và nhân văn hơn.
Câu 2.
Các tiêu chí cần đạt
1. Bảo đảm yêu cầu về hình thức, dung lượng của đoạn văn (0.3 điểm)
- Bảo đảm yêu cầu về bố cục và dung lượng (khoảng 600 chữ) của bài văn.
2. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận (0.5 điểm)
- Mối quan hệ giữa việc hướng đến những điều lớn lao và việc chú tâm vào những điều nhỏ bé trong cuộc
sống; thái độ sống đúng đắn trước hai giá trị này.
3. Viết được bài văn nghị luận bảo đảm các yêu cầu (2.5 điểm)
- Bố cục: mở – thân – kết - Nội dung chính:
+ Giải thích: điều lớn lao, điều nhỏ bé
+ Bàn luận: vai trò của mỗi giá trị trong đời sống
+ Khẳng định sự cần thiết của sự hài hòa
+ Bài học nhận thức và hành động
4. Diễn đạt (0.3 điểm)
- Bảo đảm chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết văn bản.
5. Sáng tạo (0.5 điểm)
- Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận, có cách diễn đạt mới mẻ.File đính kèm:
4_de_thi_thu_tot_nghiep_thpt_2022_2026_mon_van_sgd_cao_bang.docx

