2 Đề thi thử tốt nghiệp THPT 2025-2026 môn Ngữ Văn SGD Hải Phòng (Có đáp án)

I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)

Đọc đoạn trích:

Tôi là người hạnh phúc. Tôi đã lấy được người mình yêu, và đó cũng là mối tình đầu. Vì công tác, anh Khang và tôi thường xa nhau. Nhưng tình nghĩa giữa chúng tôi đã giúp tôi đứng vững và hoàn thành nhiệm vụ. Năm 1956, tôi sinh cháu Thắng, năm 1960, sinh cháu Mai.

Chiến tranh chống Mỹ ngày càng ác liệt, tôi phải xa các con đi làm nhiệm vụ, công tác đối ngoại ở xa. Có đồng chí hỏi tôi, để hoàn thành nhiệm vụ nặng nề được Đảng, Nhà nước giao phó, tôi có khó khăn gì nhất? Khó khăn thì không ít, nhiệm vụ được giao luôn cao hơn sức mình. Có lẽ nhiều đồng chí cũng như tôi, trong lúc đất nước đang sôi sục chiến đấu với kẻ thù, không thể từ chối bất kỳ việc gì mà kháng chiến, đất nước đang cần. Nhưng có một khó khăn mà tôi không vượt qua được, mà đành phải hy sinh: đó là việc chăm sóc hai con. Từ hai tuổi chúng đã phải đi nhà trẻ, một tuần mới về nhà một lần, khi mẹ đi vắng có các cậu đưa đón, các cậu bận thì không được về. Khi các con tôi đã lớn hơn, tôi phải đi vắng hằng năm, phải gửi Thắng và Mai cho trường nội trú. Chiến tranh ác liệt, các cháu lại đi sơ tán với dì. Ba ở quân đội nên cũng không lo được cho các con. Đi công tác xa, nghe bom đạn rơi gần chỗ con ở, tôi lo lắng đến thắt lòng, thương các con vô cùng. Đất nước bị chia cắt trong hơn hai mươi năm, tôi cảm thông sâu sắc với các anh, các chị phải xa con đằng đẵng, khiến chúng thiếu tình thương và sự dạy dỗ cần thiết. Chiến tranh, biết bao nhiêu người phải hy sinh, còn có lựa chọn nào khác!

Về gia đình, tôi phải nói trước hết về ba tôi. Mẹ tôi mất sớm khi ba tôi mới 42 tuổi. Thương con, lại trong cảnh kháng chiến, ba tôi không đi bước nữa. Bây giờ nghĩ lại, nếu sau ngày ra Bắc, ba tôi có người chăm sóc khi bệnh hoạn trong lúc tất cả chúng tôi đều ở xa, chắc ba tôi đỡ khổ hơn.

Ba tôi là người cương trực. Nghe nói trong cải cách ruộng đất, ông dám đứng ra bảo vệ một số người bị quy chụp oan. Ông cũng là người khỏe mạnh, trước đây công tác ở ngành trắc địa, từng băng rừng, lội suối như không, nhưng có lẽ do bị địch bắt và tra tấn nhiều lần, và sau này làm Trưởng ban Công binh Nam Bộ hoạt động trong rừng sâu, nước độc nên khi lớn tuổi thì đổ bệnh, ba tôi phải nằm bệnh viện hàng nửa năm... Năm 1969, ở Hội nghị Paris về nhận chỉ thị, tôi hết sức đau buồn khi biết tin ba đã nằm viện mấy tháng rồi, người gầy còm, tiều tụy. Tôi ôm lấy ba, nước mắt giàn giụa: “Ba ốm sao không cho con hay?” Ba tôi xúc động trả lời: “Chuyện ba ốm là chuyện nhỏ, việc con làm hiện nay quan trọng hơn.” Thế đó, ba tôi rất thương các con, nhưng lúc nào cũng nghĩ đến việc chung. Ông tự hào là cả gia đình đều tham gia kháng chiến. [...]

Đời tôi, do công tác nên thường xa gia đình, nhưng những người thân yêu của tôi như bao giờ cũng luôn ở cạnh, gắn bó và là động lực trong mọi công việc của tôi. Cũng có thể nói tôi có một cuộc đời rất lạ: không thể tách ảnh hưởng và tình thương của gia đình trên mỗi bước đường nhiều nỗi gian truân của mình. Đó là sức mạnh và cũng là hạnh phúc của đời tôi.

(Trích Hồi kí Gia đình, bạn bè và đất nước, Nguyễn Thị Bình, NXB Tri thức, tr.28-30)

Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1. Những sự kiện, câu chuyện trong đoạn trích được kể lại từ điểm nhìn của nhân vật nào?
Câu 2. Xác định biện pháp tu từ được sử dụng trong đoạn văn: Nhưng có một khó khăn mà tôi không vượt qua được, mà đành phải hy sinh: đó là việc chăm sóc hai con. Từ hai tuổi chúng đã phải đi nhà trẻ, một tuần mới về nhà một lần, khi mẹ đi vắng có các cậu đưa đón, các cậu bận thì không được về.
Câu 3. Phân tích hiệu quả của yếu tố phi hư cấu được sử dụng trong đoạn trích.
Câu 4. Nêu thái độ, tình cảm của tác giả được thể hiện trong đoạn trích.
Câu 5. Từ câu trả lời của người ba trong đoạn trích: Chuyện ba ốm là chuyện nhỏ, việc con làm hiện nay quan trọng hơn, anh/chị hãy rút ra một thông điệp có ý nghĩa đối với thế hệ trẻ ngày nay và lí giải.

docx 16 trang YếnNT 31/05/2026 120
Bạn đang xem tài liệu "2 Đề thi thử tốt nghiệp THPT 2025-2026 môn Ngữ Văn SGD Hải Phòng (Có đáp án)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

Tóm tắt nội dung tài liệu: 2 Đề thi thử tốt nghiệp THPT 2025-2026 môn Ngữ Văn SGD Hải Phòng (Có đáp án)

2 Đề thi thử tốt nghiệp THPT 2025-2026 môn Ngữ Văn SGD Hải Phòng (Có đáp án)
 ĐỀ SỐ 1
 SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO KỲ THI THỬ TỐT NGHIỆP THPT NĂM 2026
 HẢI PHÒNG MÔN: NGỮ VĂN
 LẦN 1 Thời gian làm bài: ..... phút (Không kể thời gian giao đề)
I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Đọc đoạn trích:
 Tôi là người hạnh phúc. Tôi đã lấy được người mình yêu, và đó cũng là mối tình đầu. Vì công tác, 
anh Khang và tôi thường xa nhau. Nhưng tình nghĩa giữa chúng tôi đã giúp tôi đứng vững và hoàn thành 
nhiệm vụ. Năm 1956, tôi sinh cháu Thắng, năm 1960, sinh cháu Mai.
 Chiến tranh chống Mỹ ngày càng ác liệt, tôi phải xa các con đi làm nhiệm vụ, công tác đối ngoại ở 
xa. Có đồng chí hỏi tôi, để hoàn thành nhiệm vụ nặng nề được Đảng, Nhà nước giao phó, tôi có khó khăn 
gì nhất? Khó khăn thì không ít, nhiệm vụ được giao luôn cao hơn sức mình. Có lẽ nhiều đồng chí cũng 
như tôi, trong lúc đất nước đang sôi sục chiến đấu với kẻ thù, không thể từ chối bất kỳ việc gì mà kháng 
chiến, đất nước đang cần. Nhưng có một khó khăn mà tôi không vượt qua được, mà đành phải hy sinh: đó 
là việc chăm sóc hai con. Từ hai tuổi chúng đã phải đi nhà trẻ, một tuần mới về nhà một lần, khi mẹ đi 
vắng có các cậu đưa đón, các cậu bận thì không được về. Khi các con tôi đã lớn hơn, tôi phải đi vắng 
hằng năm, phải gửi Thắng và Mai cho trường nội trú. Chiến tranh ác liệt, các cháu lại đi sơ tán với dì. 
Ba ở quân đội nên cũng không lo được cho các con. Đi công tác xa, nghe bom đạn rơi gần chỗ con ở, tôi 
lo lắng đến thắt lòng, thương các con vô cùng. Đất nước bị chia cắt trong hơn hai mươi năm, tôi cảm 
thông sâu sắc với các anh, các chị phải xa con đằng đẵng, khiến chúng thiếu tình thương và sự dạy dỗ 
cần thiết. Chiến tranh, biết bao nhiêu người phải hy sinh, còn có lựa chọn nào khác!
 Về gia đình, tôi phải nói trước hết về ba tôi. Mẹ tôi mất sớm khi ba tôi mới 42 tuổi. Thương con, 
lại trong cảnh kháng chiến, ba tôi không đi bước nữa. Bây giờ nghĩ lại, nếu sau ngày ra Bắc, ba tôi có 
người chăm sóc khi bệnh hoạn trong lúc tất cả chúng tôi đều ở xa, chắc ba tôi đỡ khổ hơn.
 Ba tôi là người cương trực. Nghe nói trong cải cách ruộng đất, ông dám đứng ra bảo vệ một số 
người bị quy chụp oan. Ông cũng là người khỏe mạnh, trước đây công tác ở ngành trắc địa, từng băng 
rừng, lội suối như không, nhưng có lẽ do bị địch bắt và tra tấn nhiều lần, và sau này làm Trưởng ban 
Công binh Nam Bộ hoạt động trong rừng sâu, nước độc nên khi lớn tuổi thì đổ bệnh, ba tôi phải nằm 
bệnh viện hàng nửa năm... Năm 1969, ở Hội nghị Paris về nhận chỉ thị, tôi hết sức đau buồn khi biết tin 
ba đã nằm viện mấy tháng rồi, người gầy còm, tiều tụy. Tôi ôm lấy ba, nước mắt giàn giụa: “Ba ốm sao 
không cho con hay?” Ba tôi xúc động trả lời: “Chuyện ba ốm là chuyện nhỏ, việc con làm hiện nay quan 
trọng hơn.” Thế đó, ba tôi rất thương các con, nhưng lúc nào cũng nghĩ đến việc chung. Ông tự hào là cả 
gia đình đều tham gia kháng chiến. [...]
 Đời tôi, do công tác nên thường xa gia đình, nhưng những người thân yêu của tôi như bao giờ 
cũng luôn ở cạnh, gắn bó và là động lực trong mọi công việc của tôi. Cũng có thể nói tôi có một cuộc đời 
rất lạ: không thể tách ảnh hưởng và tình thương của gia đình trên mỗi bước đường nhiều nỗi gian truân 
của mình. Đó là sức mạnh và cũng là hạnh phúc của đời tôi.
 (Trích Hồi kí Gia đình, bạn bè và đất nước, Nguyễn Thị Bình, NXB Tri thức, tr.28-30) Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1. Những sự kiện, câu chuyện trong đoạn trích được kể lại từ điểm nhìn của nhân vật nào?
Câu 2. Xác định biện pháp tu từ được sử dụng trong đoạn văn: Nhưng có một khó khăn mà tôi không vượt 
qua được, mà đành phải hy sinh: đó là việc chăm sóc hai con. Từ hai tuổi chúng đã phải đi nhà trẻ, một 
tuần mới về nhà một lần, khi mẹ đi vắng có các cậu đưa đón, các cậu bận thì không được về.
Câu 3. Phân tích hiệu quả của yếu tố phi hư cấu được sử dụng trong đoạn trích.
Câu 4. Nêu thái độ, tình cảm của tác giả được thể hiện trong đoạn trích.
Câu 5. Từ câu trả lời của người ba trong đoạn trích: Chuyện ba ốm là chuyện nhỏ, việc con làm hiện nay 
quan trọng hơn, anh/chị hãy rút ra một thông điệp có ý nghĩa đối với thế hệ trẻ ngày nay và lí giải.
II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1 (2,0 điểm). Anh/Chị hãy viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày cảm nhận về nhân vật tôi trong 
đoạn trích ở phần Đọc hiểu.
Câu 2 (4,0 điểm). 
 Chỉ số vượt qua nghịch cảnh (Adversity Quotient, viết tắt là AQ) do Stoltz đề xuất năm 1997 ở cấp 
độ khái quát là học thuyết khoa học về bản lĩnh kiên cường của con người; ở cấp độ cụ thể, là đại lượng 
đo lường mức độ chịu đựng, khả năng đối diện và xoay xở trước nghịch cảnh của con người. Cùng với 
các lí thuyết về chỉ số thông minh (IQ) và chỉ số thông minh cảm xúc (EQ), “chỉ số AQ” là một thuật 
ngữ, một tiêu chí không thể thiếu trong vốn từ hiện nay để đo lường sự kiên trì, hiệu quả công việc và sự 
thành công của một con người.
 (Theo Hoàng Mai, Tạp chí Giáo dục, ngày 24/7/2024, tr.24)
Từ góc nhìn tuổi trẻ, anh/chị hãy viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) với chủ đề: Chủ động đối mặt 
với những thách thức của cuộc sống hiện đại.
 ---------------- HẾT ----------------
Thí sinh không được sử dụng tài liệu; Giám thị không giải thích thêm. ĐÁP ÁN
I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Câu 1. Những sự kiện, câu chuyện trong đoạn trích được kể lại từ điểm nhìn của nhân vật nào?
Trả lời:
Các sự kiện, câu chuyện được kể lại từ điểm nhìn của nhân vật “tôi” – cũng chính là tác giả Nguyễn 
Thị Bình trong hồi kí.
Câu 2. Xác định biện pháp tu từ được sử dụng trong đoạn văn...
Trả lời:
Biện pháp tu từ nổi bật là liệt kê.
Tác dụng:
- Cụ thể hóa những thiếu thốn, vất vả, thiệt thòi của hai người con. 
- Làm nổi bật nỗi đau, sự day dứt, xót thương của người mẹ khi không thể trực tiếp chăm sóc con. 
-Qua đó nhấn mạnh sự hy sinh thầm lặng của người phụ nữ trong chiến tranh. 
Câu 3. Phân tích hiệu quả của yếu tố phi hư cấu được sử dụng trong đoạn trích.
Gợi ý trả lời:
Trong đoạn trích, yếu tố phi hư cấu thể hiện qua:
- Tên người thật: Nguyễn Thị Bình, anh Khang, cháu Thắng, cháu Mai... 
- Thời gian, sự kiện có thật: năm 1956, năm 1960, năm 1969, Hội nghị Paris, chiến tranh chống Mỹ... 
- Lời kể mang tính hồi kí, lời thoại trực tiếp của người cha. 
Hiệu quả:
- Làm cho câu chuyện có tính chân thực, xác thực, đáng tin cậy. 
- Giúp người đọc cảm nhận rõ hơn bối cảnh lịch sử khốc liệt của chiến tranh. 
- Khắc họa sâu sắc vẻ đẹp của nhân vật “tôi” và người cha: giàu tình yêu thương, giàu đức hi sinh, sống vì 
việc nước. 
- Tăng sức lay động cảm xúc, giúp đoạn trích vừa giàu giá trị lịch sử vừa đậm chất nhân văn. 
Câu 4. Nêu thái độ, tình cảm của tác giả được thể hiện trong đoạn trích.
Trả lời:
Đoạn trích thể hiện:
- Tình yêu thương sâu nặng với gia đình, đặc biệt là với các con và người cha. 
- Niềm biết ơn, kính trọng và tự hào về người cha, về gia đình giàu truyền thống cách mạng. 
- Sự cảm thông, chia sẻ với những mất mát, hi sinh của bao gia đình trong chiến tranh. 
- Tinh thần trách nhiệm cao với đất nước, sẵn sàng đặt việc chung lên trên hạnh phúc riêng. 
Câu 5. Từ câu nói của người ba... hãy rút ra một thông điệp có ý nghĩa đối với thế hệ trẻ ngày nay 
và lí giải.
Gợi ý trả lời:
Thông điệp:
Người trẻ cần sống có trách nhiệm, biết đặt lợi ích chung và nhiệm vụ lớn lao lên trên sự ích kỉ cá nhân.
Lí giải:
- Câu nói của người cha cho thấy tinh thần vị tha, hi sinh, luôn hướng tới việc chung. - Trong cuộc sống hôm nay, tuổi trẻ không sống thờ ơ, chỉ nghĩ cho bản thân mà cần có ý thức với gia 
đình, cộng đồng, đất nước. 
- Khi biết sống trách nhiệm, con người sẽ trưởng thành hơn, bản lĩnh hơn và tạo ra giá trị tích cực cho xã 
hội. 
- Tuy nhiên, đặt việc chung lên trên không có nghĩa là vô tâm với người thân, mà là biết cân bằng, biết 
lựa chọn điều quan trọng trong từng hoàn cảnh. 
II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1 (2,0 điểm). Viết đoạn văn khoảng 200 chữ trình bày cảm nhận về nhân vật “tôi” trong đoạn 
trích ở phần Đọc hiểu.
Dàn ý đoạn văn
1. Mở đoạn
Giới thiệu nhân vật “tôi” trong đoạn trích là hình ảnh tiêu biểu của người phụ nữ Việt Nam thời chiến: 
giàu tình yêu thương, bản lĩnh, trách nhiệm.
2. Thân đoạn
Làm rõ các vẻ đẹp của nhân vật “tôi”:
- Là người mẹ giàu tình thương con: luôn đau đáu, xót xa, lo lắng khi phải xa con, không thể trực tiếp 
chăm sóc con. 
- Là người vợ, người con giàu tình nghĩa: yêu thương chồng, kính trọng, biết ơn cha. 
- Là người chiến sĩ cách mạng có trách nhiệm lớn lao: sẵn sàng gác lại hạnh phúc riêng để hoàn thành 
nhiệm vụ với đất nước. 
- Ở nhân vật “tôi” có sự hòa quyện đẹp đẽ giữa tình cảm gia đình và lí tưởng cách mạng. 
- Nhân vật gợi cho người đọc niềm trân trọng về những con người đã âm thầm hi sinh cho dân tộc. 
3. Kết đoạn. Khẳng định: nhân vật “tôi” là hình tượng đẹp, giàu sức lay động; qua đó giúp người đọc 
thêm biết ơn thế hệ đi trước.
Đoạn văn mẫu tham khảo
 Nhân vật “tôi” trong đoạn trích để lại trong người đọc nhiều xúc động và trân trọng. Trước hết, đó 
là một người phụ nữ giàu tình yêu thương gia đình. Dù bận công tác, thường xuyên xa chồng, xa con, bà 
vẫn luôn đau đáu nỗi nhớ thương, lo lắng cho các con đến “thắt lòng” khi nghe bom đạn rơi gần nơi con 
ở. Nhưng vượt lên trên nỗi niềm riêng ấy, nhân vật “tôi” còn hiện lên là một người chiến sĩ cách mạng 
đầy bản lĩnh và trách nhiệm. Trong hoàn cảnh đất nước bị chiến tranh chia cắt, bà sẵn sàng chấp nhận hi 
sinh hạnh phúc riêng để hoàn thành nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước giao phó. Ở nhân vật này, người đọc 
còn cảm nhận được sự trân trọng, biết ơn và tự hào đối với người cha giàu lòng hi sinh, luôn nghĩ đến 
việc chung. Như vậy, nhân vật “tôi” là hình ảnh tiêu biểu cho thế hệ phụ nữ Việt Nam thời chiến: vừa 
giàu tình cảm gia đình, vừa kiên cường, tận tụy với đất nước. Hình tượng ấy khiến ta thêm cảm phục và 
biết ơn những con người đã âm thầm hi sinh vì độc lập dân tộc.
Câu 2 (4,0 điểm). Từ góc nhìn tuổi trẻ, viết bài văn nghị luận khoảng 600 chữ với chủ đề: Chủ động 
đối mặt với những thách thức của cuộc sống hiện đại.
Dàn ý chi tiết
1. Mở bài
- Cuộc sống hiện đại mở ra nhiều cơ hội nhưng cũng đặt ra không ít áp lực, khó khăn, thách thức. - Với tuổi trẻ, việc chủ động đối mặt với thách thức là thái độ sống cần thiết để trưởng thành và khẳng 
định giá trị bản thân. 
2. Thân bài
a. Giải thích
- Thách thức của cuộc sống hiện đại: áp lực học tập, công việc, cạnh tranh, biến động xã hội, công 
nghệ, thông tin nhiễu loạn, khủng hoảng tinh thần, cám dỗ vật chất... 
- Chủ động đối mặt là không né tránh, không đổ lỗi, dám nhìn thẳng vào khó khăn, tìm cách thích nghi, 
vượt qua và hoàn thiện bản thân. 
b. Vì sao người trẻ cần chủ động đối mặt với thách thức?
- Thách thức là điều không thể tránh khỏi trong cuộc sống. 
- Đối mặt với thách thức giúp con người: 
- rèn bản lĩnh, ý chí, nghị lực; 
- tích lũy kinh nghiệm; 
- khám phá năng lực của bản thân; 
- trưởng thành và tiến gần hơn đến thành công. 
- Người trẻ sống chủ động sẽ không bị tụt hậu trước sự thay đổi nhanh chóng của thời đại. 
c. Biểu hiện của tinh thần chủ động đối mặt với thách thức
- Có mục tiêu sống rõ ràng, ý thức học tập và rèn luyện. 
- Dám bước ra khỏi vùng an toàn. 
- Biết thích nghi với sự đổi mới của công nghệ, tri thức, môi trường sống. 
- Khi gặp thất bại không chán nản buông xuôi mà biết đứng dậy, điều chỉnh bản thân. 
- Biết tìm kiếm sự hỗ trợ đúng lúc nhưng không ỷ lại. 
d. Bàn luận mở rộng
- Phê phán một bộ phận người trẻ: 
- ngại khó, ngại khổ; 
- sống thụ động, dễ bỏ cuộc; 
- đắm chìm trong mạng xã hội, hưởng thụ, thiếu mục tiêu; 
- gặp trở ngại nhỏ đã bi quan, than vãn, đổ lỗi. 
- Nếu không dám đối mặt với thách thức, con người dễ đánh mất cơ hội phát triển và trở nên yếu đuối 
trước cuộc đời. 
e. Bài học nhận thức và hành động
- Cần rèn luyện bản lĩnh, ý chí, tinh thần tự học. 
- Trang bị tri thức, kĩ năng sống, kĩ năng công nghệ, khả năng thích nghi. 
- Giữ tinh thần lạc quan, dám thử, dám sai, dám sửa. 
- Sống có kỉ luật, có trách nhiệm với bản thân, gia đình và xã hội. 
- Biến thách thức thành động lực để hoàn thiện mình. 
3. Kết bài
- Khẳng định: chủ động đối mặt với những thách thức của cuộc sống hiện đại là phẩm chất rất cần ở tuổi 
trẻ hôm nay. 
- Mỗi người trẻ hãy coi khó khăn là cơ hội để rèn bản lĩnh, vươn lên và tạo dựng tương lai có ý nghĩa. Bài văn mẫu tham khảo
 Trong dòng chảy gấp gáp của cuộc sống hiện đại, con người, đặc biệt là tuổi trẻ, đang đứng trước 
rất nhiều cơ hội nhưng cũng phải đối diện với không ít thử thách. Đó có thể là áp lực học tập, công việc, 
sự cạnh tranh khốc liệt, sự thay đổi không ngừng của công nghệ, hay những khủng hoảng tinh thần âm 
thầm nảy sinh trong đời sống. Chính vì vậy, chủ động đối mặt với những thách thức của cuộc sống hiện 
đại không chỉ là một lựa chọn, mà còn là yêu cầu cần thiết để người trẻ trưởng thành và khẳng định giá trị 
bản thân.
 Thách thức là những khó khăn, trở ngại, áp lực mà con người phải vượt qua trong hành trình sống. 
Còn chủ động đối mặt là thái độ dám nhìn thẳng vào khó khăn, không trốn tránh, không đầu hàng, biết 
tìm giải pháp để thích nghi và vươn lên. Với tuổi trẻ, đây là biểu hiện của bản lĩnh, của tinh thần trách 
nhiệm và khát vọng phát triển.
 Sở dĩ người trẻ cần chủ động đối mặt với thách thức vì khó khăn là điều không thể tránh khỏi trong 
cuộc đời. Không ai có thể trưởng thành trong sự dễ dãi và bằng phẳng. Chính nghịch cảnh, áp lực và thử 
thách là môi trường để con người rèn ý chí, tích lũy kinh nghiệm và nhận ra năng lực thực sự của mình. 
Một học sinh dám đối mặt với điểm yếu sẽ nỗ lực học tập để tiến bộ. Một người trẻ dám đối diện với thất 
bại sẽ học được cách đứng dậy sau vấp ngã. Một công dân trẻ biết nhìn thẳng vào biến động của thời đại 
sẽ chủ động trau dồi kiến thức, làm mới bản thân để không bị bỏ lại phía sau. Có thể nói, thách thức 
không chỉ là vật cản mà còn là phép thử cho bản lĩnh và là bậc thang để con người vươn cao hơn.
 Trong thực tế, tinh thần chủ động đối mặt với thách thức được thể hiện ở nhiều phương diện. Đó là 
người trẻ biết xác định mục tiêu học tập, lao động rõ ràng; dám bước ra khỏi vùng an toàn; không ngại 
học hỏi cái mới; không sợ thất bại; khi gặp khó khăn thì bình tĩnh tìm nguyên nhân và giải pháp. Đó còn 
là khả năng thích nghi nhanh với môi trường số, với yêu cầu hội nhập, với áp lực của cuộc sống thành thị 
và nhịp sống biến động từng ngày. Người trẻ chủ động không ngồi chờ may mắn mà tự tạo ra cơ hội cho 
mình bằng nỗ lực, ý chí và tinh thần cầu tiến.
 Tuy nhiên, trong xã hội hiện nay vẫn có một bộ phận người trẻ sống thụ động, ngại khó, ngại khổ, 
dễ nản lòng khi gặp trở ngại. Có người mải mê với mạng xã hội, chạy theo hưởng thụ, sống thiếu mục 
tiêu, thiếu kỉ luật. Có người chỉ cần vấp ngã một lần đã buông xuôi, đổ lỗi cho hoàn cảnh. Lối sống ấy 
khiến con người yếu đuối hơn, đánh mất nhiều cơ hội tốt đẹp và khó có thể thích nghi với cuộc sống hiện 
đại đầy cạnh tranh.
 Từ đó, mỗi người trẻ cần rút ra cho mình những bài học thiết thực. Trước hết phải rèn luyện bản 
lĩnh, ý chí và tinh thần tự học. Bên cạnh đó, cần tích cực trang bị tri thức, kĩ năng sống, kĩ năng công 
nghệ và khả năng thích nghi với sự thay đổi. Đồng thời, cần giữ thái độ sống lạc quan, dám thử, dám sai, 
dám sửa và luôn có trách nhiệm với chính mình. Khi biết biến khó khăn thành động lực, con người sẽ 
mạnh mẽ hơn sau mỗi lần vượt qua thử thách.
 Cuộc sống hiện đại sẽ còn đặt ra nhiều vấn đề mới, nhiều áp lực mới, nhiều thách thức mới. Nhưng 
tuổi trẻ là quãng thời gian đẹp nhất để dấn thân, để học hỏi, để tôi luyện bản thân. Vì vậy, mỗi người trẻ 
hãy chủ động đối mặt với thách thức bằng ý chí, trí tuệ và niềm tin. Chỉ khi dám vượt qua khó khăn, con 
người mới thật sự trưởng thành và chạm tới những giá trị tốt đẹp của cuộc sống. ĐỀ SỐ 2
 SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO KỲ THI THỬ TỐT NGHIỆP THPT NĂM 2026
 HẢI PHÒNG MÔN: NGỮ VĂN
 LẦN 2 Thời gian làm bài: ..... phút (Không kể thời gian giao đề)
I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Đọc văn bản:
 (1) Mỗi người chúng ta đều đang bước trên hành trình tạo dựng một khu vườn cho riêng mình và 
tiến về phía trước. Tất cả mọi thứ đều bắt đầu từ thái độ và tâm thế của chúng ta khi khởi đầu. Để trồng 
một khu vườn cần nhiều thứ hơn là chỉ đất và nước. Chúng ta cần cân nhắc và lựa chọn cẩn thận xem 
mình sẽ trồng những loại cây nào và sẽ trồng chúng ở đâu trong khu vườn của mình. [...]
 (2) Vấn đề là chúng ta đang sống trong một xã hội mà mọi người đều có thể dễ dàng nhìn thấy khu 
vườn của người khác. Vườn của một số người tràn ngập cỏ dại, trong khi của những người khác dường 
như ngay từ khi bắt đầu đã là một vườn cây ăn quả. Đôi lúc, chúng ta cảm thấy bực bội, không hiểu vì 
sao vườn nhà mình lại cằn cỗi như vậy, trong khi hoa ở khu vườn bên cạnh đang nở rộ. Tuy nhiên, một 
cái cây dù được chăm sóc tốt trong thời gian dài cũng có thể bị sét đánh trong tích tắc. Dù không ai để ý 
đến, nhưng bạn có thể sẽ nảy sinh ý muốn nhổ nó lên vì nó đã không đơm hoa kết trái trong một khoảng 
thời gian dài. Sẽ không có ai nhìn vào một khu vườn trống trơn mà có thể cất lời khen rằng “Vườn nhà 
bạn đẹp quá”. Mọi người sẽ chỉ chú ý khi khu vườn của chúng ta đã tích lũy đủ thời gian và thành quả. 
Càng muốn nhanh chóng được người đời công nhận, người làm vườn càng trở nên thiếu kiên nhẫn khi 
hằng ngày nhìn thấy cây cối vẫn không có gì thay đổi. Chính vì vậy mà việc làm vườn đòi hỏi sự kiên 
nhẫn và cả một chút may mắn.
 (3) Để trở thành những người làm vườn hạnh phúc, chúng ta cần bắt chước thiên nhiên. Thiên 
nhiên không để ý đến ánh nhìn của người khác. Nó chỉ lặng lẽ thổi sự sống vào các tế bào của mình. 
Những bông hoa không ganh tị với nhau chỉ vì đối phương nở rộ. Giống như cây bằng lăng nở hoa vào 
mùa hè không ghen tị với cây nghinh xuân bung nở vào mùa xuân. Chỉ vì nó nở hoa vào mùa xuân không 
có nghĩa là cây sẽ tàn lụi trong mùa đông lạnh lẽo. Mà sự thật là cây đã bám chặt rễ dưới nền đất băng 
giá và kiên trì chờ mùa xuân đến. Cứ như thế, mùa đông trôi qua và cuối cùng thời điểm rực rỡ nhất của 
mỗi loài cũng sẽ đến.
 (Trích Đúng thời điểm hoa sẽ nở, Yun Subin, NXB Dân trí, 2025, tr.9-10)
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1. Theo văn bản, để trồng một khu vườn, chúng ta cần cân nhắc và lựa chọn cẩn thận những gì?
Câu 2. Chỉ ra một biện pháp tu từ được sử dụng trong câu văn: Những bông hoa không ganh tị với nhau 
chỉ vì đối phương nở rộ.
Câu 3. Phân tích hiệu quả của bằng chứng được sử dụng trong đoạn (3) văn bản.
Câu 4. Nêu mục đích người viết muốn hướng tới qua văn bản.
Câu 5. Anh/Chị có đồng tình với quan điểm: Để trở thành những người làm vườn hạnh phúc, chúng ta 
cần bắt chước thiên nhiên, không để ý đến ánh nhìn của người khác? Vì sao?
II. VIẾT (6,0 điểm) Câu 1 (2,0 điểm)
Anh/Chị hãy viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ về sức mạnh của niềm tin: cuối cùng thời 
điểm rực rỡ nhất của mỗi người cũng sẽ đến.
Câu 2 (4,0 điểm). Anh/Chị hãy viết bài văn (khoảng 600 chữ) phân tích cảm xúc của nhân vật trữ tình 
trong bài thơ sau:
 TỔ QUỐC CHÂN TRỜI
 Anh Ngọc
Bắt đầu từ mảnh đất dưới chân anh Xòe bàn tay là gặp những chân trời
Tổ quốc nối với những miền xa vợi Là gặp những con đường
Tổ quốc là điều phải đi tìm mới thấy Những cánh rừng đi suốt đời không hết
Nên đời anh là một cuộc lên đường Thế hệ anh nối nhau mải miết
Có một lần trên cát trắng hàng dương Ba lô đèo tuổi trẻ ở đằng sau
Chiều Sa Vĩ sóng chồm lên cột mốc Chợt nhìn lên tóc đã bạc lúc nào
Cái tảng đá đứng ngàn năm thách thức Lòng không nguôi những chân mây góc biển
Như bài thơ tứ tuyệt của cha ông Xanh trên đầu vẫn sắc trời tháng chín
Nam quốc sơn hà ai hát trước mênh mông Nắng Ba Đình xao xuyến sáng Tuyên ngôn
Vốc nắm đất anh hình dung Tổ quốc Cả đời anh với khẩu súng lên đường
Biển thì rộng mà nhỏ nhoi hạt cát Trái tim đập trong bão giông lửa cháy
Hạt cát nào lay động tận hồn anh Tổ quốc là điều phải đi tìm mới thấy
Cánh buồm nâu trên sắc biển xanh Nên lòng anh luôn hướng tới những chân trời.
Như chiếc lá bồng bềnh, như cánh én (Theo Tạp chí Văn nghệ quân đội,
Tổ quốc anh nối trời với biển ngày 11/02/2026)
Giữa bao la căng một mảnh đất liền
* Chú thích: Nhà thơ Anh Ngọc (tên khai sinh là Nguyễn Đức Ngọc, sinh năm 1943) là Đại tá Quân đội 
nhân dân Việt Nam, hội viên Hội Nhà văn Việt Nam. Ông đoạt Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ 
thuật năm 2012.
 --------- HẾT ---------
Thí sinh không được sử dụng tài liệu; Giám thị không giải thích thêm. ĐÁP ÁN
I. LƯU Ý CHUNG
STT Nội dung
 Đáp án được xây dựng theo yêu cầu đánh giá năng lực nên giám khảo cần tập trung xem xét 
 1 phương hướng và cách thức giải quyết vấn đề của thí sinh; chú ý đánh giá nội dung bài làm theo 
 hướng mở, khuyến khích sáng tạo, tránh áp đặt.
 Giám khảo tuân thủ Đáp án, Hướng dẫn chấm, không tự xây dựng đáp án khác. Đối với những bài 
 2 làm có ý tưởng riêng và cách diễn đạt, triển khai khác với Đáp án, giám khảo cần xem xét tính 
 thuyết phục của bài viết để chấm điểm hợp lí.
 Khi chấm bài, giám khảo đánh giá bao quát cả nội dung và hình thức; phát hiện và chấm điểm 
 3 đúng những bài viết có cá tính, sáng tạo, chân thực và trong sáng; đối với những câu trả lời sai 
 hoặc không trả lời thì chấm điểm 0.
II. ĐÁP ÁN
Phần Câu Nội dung Điểm
 ĐỌC HIỂU
 - Giám khảo đánh giá bài làm của thí sinh theo các yêu cầu cần đạt về đọc hiểu văn 
 bản nghị luận của Chương trình Ngữ văn 2018, cụ thể:
 I + Nhận biết và phân tích được một số yếu tố đặc trưng của văn bản nghị luận; 4,0
 + Biết liên tưởng mở rộng vấn đề để hiểu sâu hơn văn bản được đọc.
 - Bài làm chỉ cần trả lời ngắn gọn, đúng yêu cầu trọng tâm của các câu hỏi đọc 
 hiểu; chấp nhận cách trình bày gạch đầu dòng các ý cần nêu.
 Theo văn bản, để trồng một khu vườn, chúng ta cần cân nhắc và lựa chọn cẩn thận 
 1 xem mình sẽ trồng những loại cây nào và sẽ trồng chúng ở đâu trong khu vườn của 0,5
 mình.
 Chỉ ra một biện pháp tu từ được sử dụng trong câu văn: Những bông hoa không 
 ganh tị với nhau chỉ vì đối phương nở rộ.
 2 0,5
 - Biện pháp tu từ nhân hóa: những bông hoa – không ganh tị/ Biện pháp tu từ ẩn 
 dụ: những bông hoa, đối phương.
 - Bằng chứng được sử dụng trong đoạn (3): cây đằng tiêu nở hoa vào mùa hè 
 không ghen tị với cây nghinh xuân bung nở vào mùa xuân.
 - Hiệu quả:
 3 + Làm sáng tỏ luận đề, giúp lập luận trở nên chặt chẽ, sinh động, giàu hình ảnh và 1,0
 tăng tính thuyết phục, độ tin cậy.
 + Nhấn mạnh quan điểm sống bình thản, không ganh đua, biết chờ đợi thời điểm 
 của chính mình; từ đó khuyên nhủ mỗi người cần có thái độ sống tích cực.
 Mục đích người viết muốn hướng tới qua văn bản:
 4 1,0
 - Bày tỏ quan điểm về thái độ, tâm thế mỗi người cần có trên hành trình phát triển và khẳng định bản thân.
 - Phê phán tâm lí nóng vội, thích được công nhận sớm, dễ nản lòng khi chưa thấy 
 kết quả.
 - Khuyên nhủ, định hướng cách sống kiên trì, bền bỉ, biết chấp nhận quy luật phát 
 triển riêng và bình tĩnh chờ đợi thời điểm thích hợp.
 ...
 - HS bày tỏ ý kiến: Đồng tình/ Không đồng tình/ Đồng tình một phần với quan 
 điểm trong văn bản.
 - HS lí giải thuyết phục, phù hợp. Có thể theo hướng:
 + Đồng tình: khi không bị chi phối bởi đánh giá bên ngoài, dễ tập trung vào mục 
 5 tiêu, giá trị riêng của mình; tránh áp lực so sánh; nuôi dưỡng sự kiên trì, không 1,0
 nóng vội...
 + Không đồng tình: con người vẫn cần biết lắng nghe góp ý đúng đắn từ người 
 khác để hoàn thiện bản thân, góp phần tích lũy thêm kinh nghiệm, vốn sống ...
 + Đồng tình một phần: kết hợp 2 hướng trên.
 VIẾT
 Giám khảo cần xem xét, đánh giá bài làm của thí sinh theo các yêu cầu cần đạt về 
 viết văn nghị luận của Chương trình Ngữ văn 2018, cụ thể:
 - Xác định, triển khai và làm sáng tỏ được vấn đề nghị luận theo một cấu trúc chặt 
 chẽ, có mở đầu và kết thúc rõ ràng.
II 6,0
 - Trình bày rõ quan điểm và hệ thống các luận điểm phù hợp với bố cục đoạn văn 
 hoặc bài văn nghị luận; bảo đảm yêu cầu cả về ý tưởng và hành văn.
 - Lựa chọn được các thao tác nghị luận phù hợp; trình bày, sử dụng các lí lẽ xác 
 đáng và bằng chứng thuyết phục.
 - Thể hiện được ý tưởng cá nhân, có cách nhìn mang đậm cá tính.
 Anh/Chị hãy viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ về sức mạnh 
 1 2,0
 của niềm tin: cuối cùng thời điểm rực rỡ nhất của mỗi người cũng sẽ đến.
 Đoạn văn đáp ứng được các yêu cầu sau:
 a. Yêu cầu chung: xác định đúng vấn đề nghị luận; bảo đảm yêu cầu về hình thức, 
 dung lượng.
 - Vấn đề nghị luận: sức mạnh của niềm tin “cuối cùng thời điểm rực rỡ nhất của 0,5
 mỗi người cũng sẽ đến.”
 - Hình thức: có thể trình bày đoạn văn theo cách diễn dịch, quy nạp, phối hợp...
 - Dung lượng: khoảng 200 chữ.
 b. Yêu cầu cụ thể: thí sinh triển khai đoạn văn theo trình tự hợp lí và sử dụng đúng 
 các kĩ năng nghị luận.
 b.1. Giải thích: 0,25
 - Thời điểm rực rỡ: khi con người đạt được thành quả, giá trị, khẳng định bản thân.
 - Niềm tin cuối cùng thời điểm rực rỡ nhất của mỗi người cũng sẽ đến: sự tin tưởng 

File đính kèm:

  • docx2_de_thi_thu_tot_nghiep_thpt_2025_2026_mon_ngu_van_sgd_hai_p.docx