5 Đề thi thử tốt nghiệp THPT 2022-2026 môn Văn SGD Hà Nội (Có đáp án)
[1] Toàn cầu hóa là một xu thế tất yếu, một dòng chảy lớn cuốn theo các luồng tư tưởng, sản phẩm, phong cách sống và hệ giá trị từ khắp nơi trên thế giới. Nó mang lại cho nhân loại nhiều cơ hội phát triển vượt bậc, đặc biệt là trong lĩnh vực kinh tế, công nghệ và giao lưu quốc tế. Nhưng đồng thời, toàn cầu hóa cũng đặt ra những thách thức lớn lao, đặc biệt với các quốc gia đang tìm cách gìn giữ bản sắc văn hóa trong thế giới phẳng. Và với một dân tộc có chiều sâu văn hóa như Việt Nam, với một thế hệ trẻ đang sống trong guồng quay hội nhập, những thách thức ấy trở nên phức tạp, đa tầng và nhiều chiều hơn bao giờ hết.
[2] Thách thức đầu tiên, và cũng là sâu sắc nhất, chính là sự xâm nhập mạnh mẽ của các giá trị ngoại lai, làm lu mờ bản sắc dân tộc. Trong kỷ nguyên kỹ thuật số, văn hóa không còn bị giới hạn bởi biên giới quốc gia. Chỉ cần một chiếc điện thoại thông minh kết nối internet, người trẻ có thể tiếp cận ngay lập tức với âm nhạc US-UK, phim ảnh Hàn Quốc, thời trang Nhật Bản, ẩm thực Trung Hoa, lối sống phương Tây... Những sản phẩm ấy thường được sản xuất chuyên nghiệp, truyền thông mạnh mẽ, bắt kịp thị hiếu và thị trường, nên dễ dàng chinh phục giới trẻ. Trong khi đó, các sản phẩm văn hóa nội địa – nhất là những giá trị truyền thống – lại chưa có hình thức thể hiện hấp dẫn, chưa có chiến lược lan tỏa hiện đại, nên nhanh chóng bị lép vế.
[3] Không hiếm bạn trẻ thuộc làu các bộ truyện tranh Nhật Bản, các dòng nhạc quốc tế, những show truyền hình Hàn Quốc, nhưng lại không thể hát trọn vẹn một bài dân ca của quê hương, không nhận diện được các biểu tượng văn hóa Việt, hoặc không nhớ rõ Tết Nguyên đán có những phong tục gì. Trong sự "thất thế" ấy, văn hóa truyền thống đang bị đẩy lùi ra sau, chỉ còn tồn tại trong các lễ hội theo mùa, những tiết học giáo dục công dân, hoặc trong các bảo tàng và di tích – nơi mà giới trẻ thường ít lui tới.
[4] Thách thức thứ hai đến từ chính những chuyển động của truyền thông và mạng xã hội. Trong thời đại số, ai nắm được kênh truyền thông, người đó kiểm soát được thị hiếu và xu hướng. Mỗi ngày, thanh niên tiếp nhận hàng trăm video giải trí, tin tức, trào lưu từ khắp thế giới. Họ bị cuốn theo những xu hướng "viral", đôi khi rất nhất thời và vô thưởng vô phạt, đôi khi lại có tác động định hướng mạnh mẽ tới lối sống, thị hiếu và hệ giá trị. Nếu văn hóa dân tộc không được đưa vào "dòng chảy chủ lưu" của mạng xã hội, không trở thành nội dung phổ biến trong hệ sinh thái số, thì nguy cơ bị quên lãng, bị thay thế là điều không thể tránh khỏi.
[5] Thách thức thứ ba, và cũng là điều chúng ta cần đặc biệt lưu tâm, đó là sự đứt gãy trong truyền thừa các giá trị truyền thống giữa các thế hệ. Trong quá khứ, văn hóa dân tộc được duy trì thông qua đời sống làng xã, qua những câu chuyện ông bà kể lại, qua những lễ hội được tổ chức thường xuyên trong cộng đồng. Nhưng ngày nay, nhịp sống đô thị hóa, cơ cấu gia đình thu hẹp, thời gian dành cho văn hóa cộng đồng ngày càng ít đi. Thanh niên sống trong môi trường học tập và làm việc gấp gáp, chịu ảnh hưởng mạnh từ cá nhân hóa, từ thế giới ảo, nên ít có cơ hội tiếp xúc trực tiếp với các "người mang văn hóa" – tức là các nghệ nhân, thầy giáo, già làng, nhà nghiên cứu – những người nắm giữ tinh hoa truyền thống. [...]
(Trích Thế hệ mang sứ mệnh "vừa giữ lửa vừa thắp sáng", Bùi Hoài Sơn, special.nhandan.vn)
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1. Vấn đề chính được bàn luận trong văn bản trên là gì?
Câu 2. Chỉ ra sự khác nhau giữa các sản phẩm của giá trị ngoại lai và sản phẩm của giá trị truyền thống trong việc tác động đến giới trẻ ở đoạn [2].
Câu 3. Phân tích sự phù hợp giữa vấn đề nghị luận với hệ thống luận điểm, lí lẽ và bằng chứng trong văn bản.
Câu 4. Nhận xét hiệu quả của cách nói tăng tính khẳng định trong những câu văn sau: Thách thức thứ ba, và cũng là điều chúng ta cần đặc biệt lưu tâm, đó là sự đứt gãy trong truyền thừa các giá trị truyền thống giữa các thế hệ. Trong quá khứ, văn hóa dân tộc được duy trì thông qua đời sống làng xã, qua những câu chuyện ông bà kể lại, qua những lễ hội được tổ chức thường xuyên trong cộng đồng. Nhưng ngày nay, nhịp sống đô thị hóa, cơ cấu gia đình thu hẹp, thời gian dành cho văn hóa cộng đồng ngày càng ít đi.
Câu 5. Nếu được bổ sung “thách thức thứ tư” cho bài viết trên, anh/chị sẽ trình bày điều gì? Vì sao?
Tóm tắt nội dung tài liệu: 5 Đề thi thử tốt nghiệp THPT 2022-2026 môn Văn SGD Hà Nội (Có đáp án)
ĐỀ SỐ 1 KỲ THI THỬ TỐT NGHIỆP THPT NĂM 2026 SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO MÔN: NGỮ VĂN HÀ NỘI Thời gian làm bài: ..... phút (Không kể thời gian giao đề) I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm) Đọc văn bản: NHỮNG THÁCH THỨC CỦA TOÀN CẦU HÓA ĐỐI VỚI BẢO TỒN VĂN HÓA [1] Toàn cầu hóa là một xu thế tất yếu, một dòng chảy lớn cuốn theo các luồng tư tưởng, sản phẩm, phong cách sống và hệ giá trị từ khắp nơi trên thế giới. Nó mang lại cho nhân loại nhiều cơ hội phát triển vượt bậc, đặc biệt là trong lĩnh vực kinh tế, công nghệ và giao lưu quốc tế. Nhưng đồng thời, toàn cầu hóa cũng đặt ra những thách thức lớn lao, đặc biệt với các quốc gia đang tìm cách gìn giữ bản sắc văn hóa trong thế giới phẳng. Và với một dân tộc có chiều sâu văn hóa như Việt Nam, với một thế hệ trẻ đang sống trong guồng quay hội nhập, những thách thức ấy trở nên phức tạp, đa tầng và nhiều chiều hơn bao giờ hết. [2] Thách thức đầu tiên, và cũng là sâu sắc nhất, chính là sự xâm nhập mạnh mẽ của các giá trị ngoại lai, làm lu mờ bản sắc dân tộc. Trong kỷ nguyên kỹ thuật số, văn hóa không còn bị giới hạn bởi biên giới quốc gia. Chỉ cần một chiếc điện thoại thông minh kết nối internet, người trẻ có thể tiếp cận ngay lập tức với âm nhạc US-UK, phim ảnh Hàn Quốc, thời trang Nhật Bản, ẩm thực Trung Hoa, lối sống phương Tây... Những sản phẩm ấy thường được sản xuất chuyên nghiệp, truyền thông mạnh mẽ, bắt kịp thị hiếu và thị trường, nên dễ dàng chinh phục giới trẻ. Trong khi đó, các sản phẩm văn hóa nội địa – nhất là những giá trị truyền thống – lại chưa có hình thức thể hiện hấp dẫn, chưa có chiến lược lan tỏa hiện đại, nên nhanh chóng bị lép vế. [3] Không hiếm bạn trẻ thuộc làu các bộ truyện tranh Nhật Bản, các dòng nhạc quốc tế, những show truyền hình Hàn Quốc, nhưng lại không thể hát trọn vẹn một bài dân ca của quê hương, không nhận diện được các biểu tượng văn hóa Việt, hoặc không nhớ rõ Tết Nguyên đán có những phong tục gì. Trong sự "thất thế" ấy, văn hóa truyền thống đang bị đẩy lùi ra sau, chỉ còn tồn tại trong các lễ hội theo mùa, những tiết học giáo dục công dân, hoặc trong các bảo tàng và di tích – nơi mà giới trẻ thường ít lui tới. [4] Thách thức thứ hai đến từ chính những chuyển động của truyền thông và mạng xã hội. Trong thời đại số, ai nắm được kênh truyền thông, người đó kiểm soát được thị hiếu và xu hướng. Mỗi ngày, thanh niên tiếp nhận hàng trăm video giải trí, tin tức, trào lưu từ khắp thế giới. Họ bị cuốn theo những xu hướng "viral", đôi khi rất nhất thời và vô thưởng vô phạt, đôi khi lại có tác động định hướng mạnh mẽ tới lối sống, thị hiếu và hệ giá trị. Nếu văn hóa dân tộc không được đưa vào "dòng chảy chủ lưu" của mạng xã hội, không trở thành nội dung phổ biến trong hệ sinh thái số, thì nguy cơ bị quên lãng, bị thay thế là điều không thể tránh khỏi. [5] Thách thức thứ ba, và cũng là điều chúng ta cần đặc biệt lưu tâm, đó là sự đứt gãy trong truyền thừa các giá trị truyền thống giữa các thế hệ. Trong quá khứ, văn hóa dân tộc được duy trì thông qua đời sống làng xã, qua những câu chuyện ông bà kể lại, qua những lễ hội được tổ chức thường xuyên trong cộng đồng. Nhưng ngày nay, nhịp sống đô thị hóa, cơ cấu gia đình thu hẹp, thời gian dành cho văn hóa cộng đồng ngày càng ít đi. Thanh niên sống trong môi trường học tập và làm việc gấp gáp, chịu ảnh hưởng mạnh từ cá nhân hóa, từ thế giới ảo, nên ít có cơ hội tiếp xúc trực tiếp với các "người mang văn hóa" – tức là các nghệ nhân, thầy giáo, già làng, nhà nghiên cứu – những người nắm giữ tinh hoa truyền thống. [...] (Trích Thế hệ mang sứ mệnh "vừa giữ lửa vừa thắp sáng", Bùi Hoài Sơn, https://special.nhandan.vn) Thực hiện các yêu cầu: Câu 1. Vấn đề chính được bàn luận trong văn bản trên là gì? Câu 2. Chỉ ra sự khác nhau giữa các sản phẩm của giá trị ngoại lai và sản phẩm của giá trị truyền thống trong việc tác động đến giới trẻ ở đoạn [2]. Câu 3. Phân tích sự phù hợp giữa vấn đề nghị luận với hệ thống luận điểm, lí lẽ và bằng chứng trong văn bản. Câu 4. Nhận xét hiệu quả của cách nói tăng tính khẳng định trong những câu văn sau: Thách thức thứ ba, và cũng là điều chúng ta cần đặc biệt lưu tâm, đó là sự đứt gãy trong truyền thừa các giá trị truyền thống giữa các thế hệ. Trong quá khứ, văn hóa dân tộc được duy trì thông qua đời sống làng xã, qua những câu chuyện ông bà kể lại, qua những lễ hội được tổ chức thường xuyên trong cộng đồng. Nhưng ngày nay, nhịp sống đô thị hóa, cơ cấu gia đình thu hẹp, thời gian dành cho văn hóa cộng đồng ngày càng ít đi. Câu 5. Nếu được bổ sung “thách thức thứ tư” cho bài viết trên, anh/chị sẽ trình bày điều gì? Vì sao? II. VIẾT (6,0 điểm) Câu 1 (2,0 điểm) Với tư cách là một người trẻ trong kỉ nguyên số, anh/chị hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày những giải pháp cho “thách thức thứ ba” – “sự đứt gãy trong truyền thừa các giá trị truyền thống giữa các thế hệ” mà tác giả Bùi Hoài Sơn đã nêu trong văn bản ở phần Đọc hiểu. Câu 2 (4,0 điểm) Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) phân tích bài thơ sau: NHỮNG ĐỨA TRẺ CHƠI TRƯỚC CỬA ĐỀN1 Ông từ2 giữ đền ơi xin ông đấy Thật tuyệt vời thằng cháu ông Đương Chấp với bọn trẻ ranh rừng mỡ làm gì Ngón tay cái rất to cho được vào lỗ mũi Thế là ông cười rồi ông nhỉ Ra đây nhảy dây, ra đây trốn đuổi Cho chúng nó chơi đừng đuổi chúng đi Chúng như là hạt mẩy dưới hoàng hôn Này thằng Tâm con nhà bố Tầm Hoa mẫu đơn cũng tưng bừng í ới Trước cửa đền không được giồng cây chuối Khói hương bài thơm tỉ tê lân la Lại còn hét như giặc cái Cây vun tán lên đơm xôi đóng oản Con bé cái Nhân con bà Nhẫn kia Gió liu riu cho thấm tháp chan hoà Những mắt cười vê tít lại cứ như sợi chỉ Chợt ngẫm thấy trẻ con là giỏi nhất Gạch sân đền ấm lên ửng má Làm được buổi chiều rất giống ban mai Tiếng trẻ con non màu lá mạ Thánh cũng hân hoan. Đố ai biết được Vệt mồ hôi tươi mười3 quệt ngang mày. Ngài ở trong kia hay ở ngoài này. (Trích Bóng ai gió tạt, Thi Hoàng4, NXB Hải Phòng, 2001, tr.33-34) ----------------HẾT---------------- - Học sinh không sử dụng tài liệu. - Giám thị không giải thích gì thêm. (1) Đền: nơi thờ thần thánh hoặc những nhân vật lịch sử được tôn sùng như thần thánh. (2) Ông từ: chỉ những người chịu trách nhiệm trông coi, đèn hương ở đình, đền, miếu. (3) Tươi mười: từ láy chỉ trạng thái tươi tắn, căng tràn sức sống toát lên vẻ khỏe khoắn và rạng rỡ. (4) Nhà thơ Thi Hoàng sinh năm 1943 tại Hải Phòng. Thơ ông nổi bật với những ý tưởng lạ, những cách tân độc đáo về ngôn ngữ thơ. Ông được trao tặng giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật năm 2007. HƯỚNG DẪN CHẤM I. LƯU Ý CHUNG 1. Hướng dẫn chấm được xây dựng dựa trên yêu cầu đánh giá năng lực nên giám khảo cần tập trung vào xem xét phương hướng và cách thức giải quyết vấn đề của thí sinh, chú ý đánh giá nội dung bài làm theo hướng mở, khuyến khích sáng tạo, tránh áp đặt. 2. Giám khảo tuân thủ Hướng dẫn chấm, không tự ý xây dựng hướng dẫn chấm khác. Đối với những bài làm có ý tưởng riêng và cách triển khai, diễn đạt khác với hướng dẫn chấm, giám khảo xem xét tính thuyết phục của bài viết để chấm điểm hợp lí. 3. Khi chấm bài, giám khảo đánh giá bao quát cả nội dung và hình thức, phát hiện và chấm điểm đúng những bài viết có cá tính, sáng tạo, chân thực và trong sáng; đối với những câu trả lời sai hoặc không trả lời thì chấm điểm 0. II. HƯỚNG DẪN CHẤM Phần Câu Nội dung Điểm ĐỌC HIỂU Giám khảo đánh giá bài làm của thí sinh theo các yêu cầu cần đạt về đọc hiểu văn bản nghị luận của Chương trình Ngữ văn 2018, cụ thể: - Nhận biết, phân tích được nội dung của luận đề, luận điểm, lí lẽ và bằng chứng tiêu biểu, độc đáo trong văn bản; chỉ ra mối liên hệ của chúng; đánh giá 4,0 được mức độ phù hợp giữa nội dung nghị luận với nhan đề của văn bản. - Biết mở rộng vấn đề sâu hơn văn bản được đọc. - Bài làm chỉ cần trả lời ngắn gọn, đúng yêu cầu trọng tâm của các câu hỏi đọc hiểu; chấp nhận cách trình bày gạch đầu dòng các ý cần nêu. Vấn đề chính được bàn luận: Những thách thức của toàn cầu hoá đối với bảo tồn văn hoá. Hướng dẫn chấm: 1 0,5 - HS nêu đúng vấn đề: 0,5 điểm I - HS nêu được 01 khía cạnh của vấn đề: 0,25 điểm - HS chưa nêu đúng vấn đề được bàn luận trong văn bản: 0 điểm Sự khác nhau giữa các sản phẩm của giá trị ngoại lai và sản phẩm của giá trị truyền thống trong đoạn [2]: - Những sản phẩm của giá trị ngoại lai “thường được sản xuất chuyên nghiệp, truyền thông mạnh mẽ, bắt kịp thị hiếu và thị trường, nên dễ dàng chinh phục giới trẻ”. 2 - Các sản phẩm giá trị nội địa “lại chưa có hình thức thể hiện hấp dẫn, chưa có 0,5 chiến lược lan tỏa hiện đại”. Hướng dẫn chấm: - HS nêu đúng 02 khía cạnh: 0,5 điểm - HS nêu đúng 01 khía cạnh: 0,25 điểm - HS không nêu đúng khía cạnh nào: 0 điểm 3 Sự phù hợp giữa vấn đề nghị luận với hệ thống luận điểm, lí lẽ và bằng chứng: 1,0 - Hệ thống luận điểm: Tác giả triển khai ba luận điểm sáng rõ, chặt chẽ, làm rõ vấn đề được bàn luận - những thách thức của toàn cầu hoá với việc giữ gìn bản sắc dân tộc. + Luận điểm 1: Sự xâm nhập mạnh mẽ của các giá trị ngoại lai khiến văn hoá nội địa lép vế. + Luận điểm 2: Sự chi phối của truyền thông và mạng xã hội khiến văn hoá dân tộc không được đưa vào “dòng chảy chủ lưu” của mạng xã hội có nguy cơ bị quên lãng. + Luận điểm 3: Nhịp sống đô thị hoá, cơ cấu gia đình thu hẹp, thời gian dành cho văn hoá cộng đồng ít đi, khiến sự kết nối giữa con người với cộng đồng và truyền thống trở nên mờ nhạt. - Hệ thống lí lẽ: các lí lẽ được triển khai một cách logic theo trình tự nguyên nhân - kết quả; từ đó nhấn mạnh tính cấp thiết của việc giữ gìn bản sắc dân tộc giữa bối cảnh toàn cầu hoá. - Hệ thống bằng chứng: những bằng chứng đưa vào cụ thể, gần gũi, tạo nên cơ sở thực tế rõ ràng cho những thách thức của toàn cầu hoá với việc giữ gìn bản sắc dân tộc: + Âm nhạc US-UK, phim Hàn Quốc, truyện tranh Nhật Bản... + Thực trạng bạn trẻ không thuộc dân ca, không nhớ phong tục Tết. Như vậy, sự phù hợp giữa vấn đề được bàn luận và hệ thống luận điểm, lí lẽ, bằng chứng tạo nên sức thuyết phục cao cho văn bản. Hướng dẫn chấm: - HS phân tích được 03 nội dung: 1,0 điểm - HS phân tích được 02 nội dung: 0,75 điểm - HS phân tích được 01 nội dung: 0,5 điểm - HS nêu chung chung nhưng không phân tích hoặc phân tích chưa thuyết phục: 0,25 điểm - HS không nêu nhận xét và không phân tích: 0 điểm - Cách nói gia tăng tính khẳng định: + Từ/cụm từ gia tăng tính khẳng định: “cần đặc biệt lưu tâm” ... + Phép điệp ngữ, liệt kê: “qua đời sống làng xã, qua những câu chuyện ông bà kể lại, qua những lễ hội”... - Nhận xét hiệu quả: + Nhấn mạnh vai trò quan trọng của luận điểm trong lập luận của văn bản. 4 1,0 + Nhấn mạnh sức sống và sự tiếp nối bền vững của văn hoá truyền thống. + Tạo giọng điệu chắc chắn, quả quyết, gia tăng sức thuyết phục cho lập luận. Hướng dẫn chấm: - HS nêu được 02 biểu hiện và nhận xét được ít nhất 02 hiệu quả của cách nói gia tăng tính khẳng định: 1,0 điểm - HS nêu được 01 biểu hiện và nhận xét được ít nhất 02 hiệu quả của cách nói gia tăng tính khẳng định hoặc HS không nêu được biểu hiện nhưng nhận xét được nhiều hơn 02 hiệu quả hoặc HS nêu được 02 biểu hiện và nhận xét được 01 hiệu quả của cách nói gia tăng tính khẳng định: 0,75 điểm - HS nêu được 01 biểu hiện và nhận xét được 01 phần hiệu quả của cách nói gia tăng tính khẳng định hoặc HS không nêu được biểu hiện nhưng nhận xét được 02 hiệu quả: 0,5 điểm - HS chỉ nêu được biểu hiện và không nhận xét được hiệu quả của cách nói gia tăng tính khẳng định hoặc HS không nêu được biểu hiện và nhận xét được 01 hiệu quả: 0,25 điểm - HS không nêu được biểu hiện và không nhận xét được hiệu quả của cách nói gia tăng tính khẳng định: 0 điểm 5 - HS trình bày quan điểm của bản thân về “thách thức thứ tư” và lí giải thuyết phục. VD: Toàn cầu hoá dẫn đến nguy cơ mai một ngôn ngữ dân tộc và phương ngữ. Bởi vì toàn cầu hoá thúc đẩy việc sử dụng các ngôn ngữ mang tính quốc tế trong giao tiếp, giáo dục, khoa học, kinh tế.... Theo đó, ngôn ngữ dân tộc, nhất là dân tộc thiểu số và phương ngữ địa phương không còn được sử dụng rộng rãi. Khi ngôn ngữ suy giảm, các giá trị văn hoá, tri thức dân gian và cách tư duy gắn với ngôn ngữ đó cũng có nguy cơ biến mất, bởi ngôn ngữ là phương 1,0 tiện lưu giữ và truyền tải văn hoá. Hướng dẫn chấm: - HS nêu được “thách thức thứ tư” và lí giải thuyết phục: 1,0 điểm - HS nêu được “thách thức thứ tư” và lí giải tương đối thuyết phục: 0,5 - 0,75 điểm - HS chỉ nêu “thách thức thứ tư” và không lí giải: 0,25 điểm - HS không nêu được “thách thức thứ tư” và không lí giải: 0 điểm VIẾT Giám khảo cần xem xét, đánh giá bài làm của thí sinh theo các yêu cầu cần đạt về viết văn nghị luận của Chương trình Ngữ văn 2018, cụ thể: - Xác định, triển khai và làm sáng tỏ được vấn đề nghị luận theo một cấu trúc chặt chẽ, có mở đầu và kết thúc rõ ràng. 6,0 - Trình bày rõ quan điểm và hệ thống các luận điểm phù hợp với bố cục đoạn văn hoặc bài văn nghị luận; bảo đảm yêu cầu cả về ý tưởng và hành văn. II - Lựa chọn được các thao tác nghị luận phù hợp trình bày, sử dụng các lí lẽ xác đáng và bằng chứng thuyết phục - Thể hiện được ý tưởng cá nhân có cách nhìn mang đậm cá tính. Với tư cách là một người trẻ trong kỉ nguyên số, anh/chị hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày những giải pháp cho “thách thức thứ ba” – “sự 1 2,0 đứt gãy trong truyền thừa các giá trị truyền thống giữa các thế hệ” mà tác giả Bùi Hoài Sơn đã nêu trong văn bản ở phần Đọc hiểu. Đoạn văn đáp ứng được các yêu cầu sau: a. Yêu cầu chung: xác định đúng vấn đề nghị luận; bảo đảm yêu cầu về hình thức, dung lượng. - Vấn đề nghị luận: giải pháp cho “thách thức thứ ba” – “sự đứt gãy trong truyền thừa các giá trị truyền thống giữa các thế hệ”. - Hình thức: có thể trình bày đoạn văn theo cách diễn dịch, quy nạp, phối hợp... - Dung lượng: khoảng 200 chữ 0,5 Hướng dẫn chấm: - HS xác định đúng vấn đề nghị luận và yêu cầu về hình thức, dung lượng: 0,5 điểm - HS chỉ xác định đúng vấn đề nghị luận: 0,25 điểm - HS chỉ thực hiện đúng yêu cầu về hình thức và dung lượng: 0,25 điểm - Đoạn văn của HS không đáp ứng yêu cầu về vấn đề nghị luận, hình thức và dung lượng: 0 điểm b. Yêu cầu cụ thể: thí sinh triển khai đoạn văn theo trình tự hợp lí và sử dụng các kĩ năng nghị luận. Sau đây là một vài gợi ý về hướng triển khai: b1. Đưa ra những giải pháp - Giải pháp 1: Kết nối với thế hệ đi trước - những “người mang văn hoá” để tìm tòi, học hỏi và thấu hiểu vẻ đẹp của những giá trị truyền thống. - Giải pháp 2: Thực hành các trải nghiệm văn hoá để tìm hiểu và trân trọng những giá trị truyền thống (tham quan các di tích lịch sử, lễ hội truyền thống, trải nghiệm các phong tục truyền thống...). - Giải pháp 3: Sáng tạo nội dung về văn hoá truyền thống trên không gian số (qua các video ngắn, podcast, blog...) để đưa các giá trị truyền thống trở thành chất liệu sáng tạo các sản phẩm văn hoá hiện đại, dễ tiếp cận và lan toả tới giới trẻ...). 1,5 ... b2. Phân tích bàn luận các giải pháp đã nêu (lí lẽ, bằng chứng) b3. Sáng tạo - Có những ý đột phá, vượt ra ngoài hướng dẫn chấm nhưng có sức thuyết phục. - Có cách diễn đạt tinh tế, độc đáo. Lưu ý: HS có thể trình bày quan điểm cá nhân, nhưng phải có lập luận thuyết phục. Hướng dẫn chấm: - HS triển khai được những giải pháp phù hợp (ít nhất 02 giải pháp) với những lí lẽ, bằng chứng hợp lí, sáng tạo: 1,5 điểm - HS triển khai được những giải pháp phù hợp với những lí lẽ, bằng chứng hợp lí 1,25 điểm - HS triển khai được giải pháp phù hợp nhưng chưa chỉ ra được những lí lẽ, bằng chứng thuyết phục: 0,5-1,0 điểm - HS không triển khai được các giải pháp, không đưa ra được lí lẽ, dẫn chứng: 0 điểm Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) phân tích bài thơ “Những đứa trẻ 2 chơi trước cửa đền” (Thi Hoàng). Bảo đảm đáp ứng được các yêu cầu sau: a. Yêu cầu chung: xác định đúng vấn đề nghị luận; bảo đảm yêu cầu về dung lượng và bố cục bài văn nghị luận. - Vấn đề nghị luận: nội dung và nghệ thuật của bài thơ “Những đứa trẻ chơi trước cửa đền”. 0,5 - Dung lượng: khoảng 600 chữ Hướng dẫn chấm: - HS bảo đảm vấn đề nghị luận và dung lượng và bố cục của bài văn: 0,5 điểm - HS chỉ đảm bảo được 01 trong các yêu cầu: 0,25 điểm - HS không đảm bảo được một yêu cầu nào: 0 điểm b. Yêu cầu cụ thể: thí sinh triển khai bài viết theo trình tự hợp lí và sử dụng đúng các kĩ năng nghị luận. b1. Viết được mở bài và kết bài cho bài văn nghị luận văn học - Mở bài: giới thiệu được vấn đề nghị luận. - Kết bài: khẳng định được vấn đề nghị luận. 0,5 Hướng dẫn chấm: - HS viết được mở bài và kết bài: 0,5 điểm - HS chỉ viết mở bài hoặc kết bài: 0,25 điểm - HS không viết mở bài và kết bài: 0 điểm b2. Phân tích nội dung của bài thơ - Dưới lăng kính đạo đức, đền là nơi linh thiêng không được phép chơi đùa, chơi đùa sẽ làm mất đi sự tôn nghiêm ở nơi đây. Nhưng dưới lăng kính thẩm mĩ, sự chơi đùa của những đứa trẻ sẽ thể hiện cái đẹp và bản chất, ý nghĩa của sự sống, sức sống; sự hồn nhiên, tinh nghịch của trẻ nhỏ khiến ngôi đền linh thiêng được trẻ hóa. - Sự thuần khiết của tuổi thơ làm nên phép nhiệm màu ngay giữa đời thực, 2,5 thậm chí, chúng chính là những vị Thánh “ở ngoài này”, ở trong cõi tục. - Bài thơ thể hiện tình cảm yêu mến, nâng niu; cái nhìn bao dung, độ lượng của nhân vật trữ tình đối với sự thuần khiết, trong sáng và rực rỡ của thế giới tuổi thơ. b3. Phân tích nghệ thuật của bài thơ - Thể thơ tự do. - Sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa yếu tố biểu cảm với tự sự và miêu tả. - Giọng thơ sôi nổi, tươi sáng, hóm hỉnh. - Lời thơ giàu chất khẩu ngữ nhưng vẫn tinh tế và giàu sức gợi. b4. Đánh giá chung Nhận xét về giá trị nội dung và nghệ thuật của bài thơ. Hướng dẫn chấm: - HS triển khai hệ thống luận điểm chặt chẽ, kết hợp nhuần nhuyễn và triển khai lí lẽ, dẫn chứng cụ thể theo trình tự hợp lí: 2,25-2,5 điểm - HS triển khai được những luận điểm phù hợp nhưng chưa đưa ra được những lí lẽ, dẫn chứng thuyết phục hoặc sắp xếp trình tự chưa hợp lí: 1,5-2,0 điểm - HS đưa lí lẽ, dẫn chứng thiếu tính thuyết phục: 0,5 điểm – 1,25 điểm - HS không đưa ra được những lí lẽ, dẫn chứng phù hợp với vấn đề nghị luận: 0 điểm b5. Sáng tạo - Có những ý đột phá, vượt ra ngoài Đáp án nhưng có sức thuyết phục - Có cách diễn đạt tinh tế, độc đáo Hướng dẫn chấm: - HS thể hiện tư duy sáng tạo qua lập luận, diễn đạt, phù hợp với vấn đề nghị 0,5 luận: 0,5 điểm - HS thể hiện tư duy sáng tạo qua một trong hai phương diện: lập luận hoặc diễn đạt: 0,25 điểm - HS chưa thể hiện rõ sự sáng tạo: 0 điểm Tổng điểm 10,0 ĐỀ SỐ 2 KỲ THI THỬ TỐT NGHIỆP THPT NĂM 2025 SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO MÔN: NGỮ VĂN HÀ NỘI Thời gian làm bài: ..... phút (Không kể thời gian giao đề) I. ĐỌC HIỂU: Đọc đoạn trích DẤU CHÂN NGƯỜI LÍNH (Trích) Nguyễn Minh Châu (Tóm tắt: “Dấu chân người lính” là tiểu thuyết kể về cuộc chiến vô cùng ác liệt của quân đội ta với kẻ thù ở thung lũng Khe Sanh, Quảng Trị. Tác phẩm gồm 03 phần: Hành quân – Chiến dịch bao vây – Đất giải phóng, nhằm tái hiện lại hành trình chiến đấu từ những ngày bắt đầu chuẩn bị đến chặng đường hành quân và cuối cùng là cuộc tấn công giành chiến thắng. Trong hành trình ấy là những câu chuyện về cuộc sống chiến đấu và đời sống tâm hồn của chính ủy Kinh, chiến sĩ cần vụ Khuê, trinh sát Lượng, lính thông tin Lữ,... Đoạn trích dưới đây thuộc chương 12, kể về Nết – chị của Khuê, một nữ thanh niên xung phong, được điều đến làm công việc của y tá trạm phẫu thuật ở Tây Nam Khe Sanh) Nết đã đi làm đường trong đội thanh niên xung phong chống Mỹ cứu nước hai năm, hai năm làm cấp dưỡng nữa, cô đã đi gần suốt dãy Trường Sơn mà vẫn không sao sửa chữa được cái bệnh nhớ nhà. [...] Làm sao nói hết mọi điều đáng nói về một cái bếp lửa trên chon von Trường Sơn? Những cái bếp bằng đất vắt nặn nên bởi bàn tay khéo léo, khói chỉ lan lờ mờ trong cỏ như sương ban mai rồi tan dần, lửa thì đậu lại. Ngọn lửa được ấp ủ trong lòng người con gái đồng bằng. Những chiến sĩ hành quân trên Trường Sơn chợt trông thấy một ảnh lửa hồng, một mái nhà, cái bờ giậu bằng cây sắn có rặng mồng tơi leo, đàn gà lợn trong chuồng, bên đường một mái tóc cặp buông lơi, một kiểu chít khăn mỏ quạ, một nước da con gái đang sốt rét, một ánh mắt đằm thắm vồn vã: "Các anh người quê ở đâu ta?". Có biết bao nhiêu là nỗi nhớ đồng bằng gửi vào trong một câu hỏi ấy? Có đêm khuya khoắt ngồi trước khuôn bếp, Nết lắng nghe thấy đủ các thứ tiếng động của rừng: tiếng suối chảy, tiếng gà rừng gáy, tiếng con tắc kè và tiếng chim "bắt cô trói cột". Mỗi lúc như vậy, nỗi nhớ nhà và nhớ vùng xuôi cử cồn cào trong gan ruột, Nết nghe rõ tiếng cá chép đớp mồi bên bờ ao ấu, cùng tiếng mẹ khỏa nước rửa chân ngoài cầu ao... Suốt những năm ở nhà cùng với mẹ, chẳng mấy khi Nết trông thấy mẹ mặc một cái quần chùng, hai ống quần ướt sũng bao giờ cũng vo quả gối, đôi bắp chân đen thui khẳng khiu bao giờ cũng in một ngấn bùn trắng. Mỗi buổi trưa hè đi làm ngoài đồng trở về, bước chân bao giờ cũng lật đật, mẹ vứt xóc cua đồng trước thềm nhà và liền nằm úp sấp bụng trên cái thềm đất, vừa cười ngượng nghịu vừa vẫy Nết lại. Nết chạy tới nhẹ nhàng giậm bàn chân trên dọc sống lưng mẹ, giận dữ rầy la mẹ sau các kỳ sinh nở không biết kiêng cữ. Và những lúc như vậy, mẹ chỉ nín lặng nhẫn nhục rên khe khẽ và đưa mắt nhìn lũ con cãi cọ tranh nhau đuổi theo những con cua đồng "- U ơi!". Ngày hôm đó, Nết đã cầm chặt lá thư ngắn ngủi của Khuê trong những ngón tay cứng đờ như không còn biết cảm giác, cô kêu lên một tiếng rên rỉ đầy đau khổ và phẫn nộ. Nết nhớ ngày ở nhà, cô thường giả vờ xắn ống tay áo dọa đùa thằng em bé nhất: "Hiên ra đây chị gội đầu nào?". Thằng bé sợ nhất là bị bế đi gội đầu liền khóc thét om cả nhà và lần nào Nết cũng bị mẹ mắng: "Cái con quỷ này lớn xác chỉ khỏe trêu em!".
File đính kèm:
5_de_thi_thu_tot_nghiep_thpt_2022_2026_mon_van_sgd_ha_noi_co.docx

