Bộ 13 Đề thi vào 10 môn Văn Bình Định (Có đáp án)
I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Đọc đoạn trích sau:
(1) … Quê hương tôi có cây bầu, cây nhị
Tiếng đàn kêu tích tịch tình tang...
Có cô Tấm nâu mình trong quả thị
Có người em may túi đúng ba gang.
[...]
(2)
Quê hương tôi có bà Trưng, bà Triệu
Cưỡi đầu voi, dậy nghĩa trả thù chung.
Ông Lê Lợi đã trường kỳ kháng chiến
Hưng Đạo Vương đã mở hội Diên Hồng.
(3)
Quê hương tôi có múa xoè, hát đúm
Có hội xuân liên tiếp những đêm chèo.
Có Nguyễn Trãi, có Bình Ngô đại cáo
Có Nguyễn Du và có một truyện Kiều.
[...]
(4)
Cánh đồng nào cũng chôn vàng giấu bạc
Bờ biển nào cũng chói ngọc ngời châu.
Có thanh quế ngửi qua là khỏi bệnh
Có cây lim đóng cả một thân tàu.
(Nguyễn Bính, trích Bài thơ quê hương, in trong tập Thơ Nguyễn Bính,
NXB Thanh Niên, 2008, tr.167-169)
Chú thích: Nguyễn Bính (1918–1966) quê ở thôn Thiện Vịnh, xã Cộng Hòa, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định. Ông là một trong những nhà thơ lãng mạn nổi tiếng của thi ca Việt Nam hiện đại. Với những bài thơ mang sắc thái dân dã, mộc mạc, Nguyễn Bính được mệnh danh là nhà thơ của làng quê Việt Nam. “Bài thơ quê hương” được Nguyễn Bính sáng tác vào dịp Tết Bính Ngọ (1966).
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1.(0,5 điểm) Xác định chủ đề trong đoạn trích.
Câu 2.(0,5 điểm) Hãy kể tên của những truyện cổ tích Việt Nam được gợi ra trong khổ thơ (1).
Câu 3.(1,0 điểm) Xác định và nêu tác dụng của một biện pháp tu từ có trong khổ thơ (3).
Câu 4.(1,0 điểm) Trình bày cách hiểu của em về hai câu thơ:
Cánh đồng nào cũng chôn vàng, giấu bạc
Bờ biển nào cũng chói ngọc ngời châu.
Câu 5.(1,0 điểm)
Qua đoạn trích trên, em hãy rút ra thông điệp có ý nghĩa nhất đối với bản thân. Lí giải vì sao em chọn thông điệp ấy?
II. PHẦN VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1.(2,0 điểm)
Kết nối với phần Đọc hiểu, viết một đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích vẻ đẹp của quê hương qua hai khổ thơ:
(2) Quê hương tôi có bà Trưng, bà Triệu
Cưỡi đầu voi, dấy nghĩa trả thù chung.
Ông Lê Lợi đã trường kỳ kháng chiến
Hưng Đạo Vương đã mở hội Diên Hồng.
(3) Quê hương tôi có múa xoè, hát đúm
Có hội xuân liên tiếp những đêm chèo.
Có Nguyễn Trãi, có Bình Ngô đại cáo
Có Nguyễn Du và có một truyện Kiều.
Câu 2. (4,0 điểm)
Em hãy viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) trình bày suy nghĩ sâu sắc của bản thân về việc giữ gìn và phát huy những giá trị truyền thống dân tộc trong xu thế hội nhập toàn cầu hóa của đất nước ta hiện nay.
HƯỚNG DẪN GIẢI
I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Câu 1. (0,5 điểm)
Chủ đề: Ca ngợi vẻ đẹp bình dị, truyền thống văn hoá, lịch sử của quê hương. Thể hiện tình yêu tha thiết và niềm tự hào về quê hương đất nước
Câu 2. (0,5 điểm)
Truyện cổ tích: Thạch Sanh, Tấm Cám, Cây khế.
Câu 3. (1,0 điểm)
BPTT điệp ngũ: "có"
- Tác dụng:
+ Nhân mạnh sự phong phú, đa dạng về văn hoà, lịch sử của quê hương + Tạo nhịp điệu nhẹ nhàng, da diết, thể hiện niềm tự hào sâu sắc về quê hương
+ Thể hiện niềm tự hào của tác giả đối với văn hoà, lịch sử quê hương
Câu 4. (1,0 điểm)
HS dựa vào câu thơ, đưa ra cách hiểu phù hợp
Gợi ý: Hai câu ca ngợi quê hương trù phú, giàu đẹp. “Vàng, bạc, ngọc, châu" tượng trưng cho những giá trị quý báu về thiên nhiên và văn hóa. Qua đó, thể hiện tình yêu và niềm tự hào sâu sắc của tác giả với quê hương.
Câu 5. (1,0 điểm)
HS dựa vào văn bản, rút ra thông điệp phù hợp và có lí giải
Gợi ý:
+ Hãy yêu mến, tự hào về quê hương, đất nước của mình,
+ Trân trọng những nét đẹp văn hóa truyền thống của quê hương.
+ Có những hành động cụ thể để giữ gìn, phát triển những nét đẹp văn hóa truyền thống của quê hương.
- Lí giải: Vì quê hương không chỉ là nơi sinh ra và lớn lên, mà còn là cội nguồn nuôi đường tâm hôn, hun đúc lòng yêu nước và ý chí vươn lên trong mỗi người
Tóm tắt nội dung tài liệu: Bộ 13 Đề thi vào 10 môn Văn Bình Định (Có đáp án)
Bộ 13 Đề thi vào 10 môn Văn Bình Định (Có đáp án) - DeThiVan.com DeThiVan.com Bộ 13 Đề thi vào 10 môn Văn Bình Định (Có đáp án) - DeThiVan.com ĐỀ SỐ 1 SỞ GIÁO DỤC – ĐÀO TẠO KỲ THI TUYỂN SINH VÀO LỚP 10 THPT BÌNH ĐỊNH Năm học 2025-2026 Môn thi : NGỮ VĂN ĐỀ CHÍNH THỨC Thời gian làm bài: 120 phút (Không kể thời gian phát đề) I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4,0 điểm) Đọc đoạn trích sau: (1) Quê hương tôi có cây bầu, cây nhị Tiếng đàn kêu tích tịch tình tang... Có cô Tấm nâu mình trong quả thị Có người em may túi đúng ba gang. [...] (2) Quê hương tôi có bà Trưng, bà Triệu Cưỡi đầu voi, dậy nghĩa trả thù chung. Ông Lê Lợi đã trường kỳ kháng chiến Hưng Đạo Vương đã mở hội Diên Hồng. (3) Quê hương tôi có múa xoè, hát đúm Có hội xuân liên tiếp những đêm chèo. Có Nguyễn Trãi, có Bình Ngô đại cáo Có Nguyễn Du và có một truyện Kiều. [...] (4) Cánh đồng nào cũng chôn vàng giấu bạc Bờ biển nào cũng chói ngọc ngời châu. Có thanh quế ngửi qua là khỏi bệnh Có cây lim đóng cả một thân tàu. (Nguyễn Bính, trích Bài thơ quê hương, in trong tập Thơ Nguyễn Bính, NXB Thanh Niên, 2008, tr.167-169) Chú thích: Nguyễn Bính (1918–1966) quê ở thôn Thiện Vịnh, xã Cộng Hòa, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định. Ông là một trong những nhà thơ lãng mạn nổi tiếng của thi ca Việt Nam hiện đại. Với những bài thơ mang sắc thái dân dã, mộc mạc, Nguyễn Bính được mệnh danh là nhà thơ của làng quê Việt Nam. “Bài thơ quê hương” được Nguyễn Bính sáng tác vào dịp Tết Bính Ngọ (1966). Thực hiện các yêu cầu: Câu 1. (0,5 điểm) Xác định chủ đề trong đoạn trích. Câu 2. (0,5 điểm) Hãy kể tên của những truyện cổ tích Việt Nam được gợi ra trong khổ thơ (1). Câu 3. (1,0 điểm) Xác định và nêu tác dụng của một biện pháp tu từ có trong khổ thơ (3). Câu 4. (1,0 điểm) Trình bày cách hiểu của em về hai câu thơ: DeThiVan.com Bộ 13 Đề thi vào 10 môn Văn Bình Định (Có đáp án) - DeThiVan.com Cánh đồng nào cũng chôn vàng, giấu bạc Bờ biển nào cũng chói ngọc ngời châu. Câu 5. (1,0 điểm) Qua đoạn trích trên, em hãy rút ra thông điệp có ý nghĩa nhất đối với bản thân. Lí giải vì sao em chọn thông điệp ấy? II. PHẦN VIẾT (6,0 điểm) Câu 1. (2,0 điểm) Kết nối với phần Đọc hiểu, viết một đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích vẻ đẹp của quê hương qua hai khổ thơ: (2) Quê hương tôi có bà Trưng, bà Triệu Cưỡi đầu voi, dấy nghĩa trả thù chung. Ông Lê Lợi đã trường kỳ kháng chiến Hưng Đạo Vương đã mở hội Diên Hồng. (3) Quê hương tôi có múa xoè, hát đúm Có hội xuân liên tiếp những đêm chèo. Có Nguyễn Trãi, có Bình Ngô đại cáo Có Nguyễn Du và có một truyện Kiều. Câu 2. (4,0 điểm) Em hãy viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) trình bày suy nghĩ sâu sắc của bản thân về việc giữ gìn và phát huy những giá trị truyền thống dân tộc trong xu thế hội nhập toàn cầu hóa của đất nước ta hiện nay. DeThiVan.com Bộ 13 Đề thi vào 10 môn Văn Bình Định (Có đáp án) - DeThiVan.com HƯỚNG DẪN GIẢI I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4,0 điểm) Câu 1. (0,5 điểm) Chủ đề: Ca ngợi vẻ đẹp bình dị, truyền thống văn hoá, lịch sử của quê hương. Thể hiện tình yêu tha thiết và niềm tự hào về quê hương đất nước Câu 2. (0,5 điểm) Truyện cổ tích: Thạch Sanh, Tấm Cám, Cây khế. Câu 3. (1,0 điểm) BPTT điệp ngũ: "có" - Tác dụng: + Nhân mạnh sự phong phú, đa dạng về văn hoà, lịch sử của quê hương + Tạo nhịp điệu nhẹ nhàng, da diết, thể hiện niềm tự hào sâu sắc về quê hương + Thể hiện niềm tự hào của tác giả đối với văn hoà, lịch sử quê hương Câu 4. (1,0 điểm) HS dựa vào câu thơ, đưa ra cách hiểu phù hợp Gợi ý: Hai câu ca ngợi quê hương trù phú, giàu đẹp. “Vàng, bạc, ngọc, châu" tượng trưng cho những giá trị quý báu về thiên nhiên và văn hóa. Qua đó, thể hiện tình yêu và niềm tự hào sâu sắc của tác giả với quê hương. Câu 5. (1,0 điểm) HS dựa vào văn bản, rút ra thông điệp phù hợp và có lí giải Gợi ý: + Hãy yêu mến, tự hào về quê hương, đất nước của mình, + Trân trọng những nét đẹp văn hóa truyền thống của quê hương. + Có những hành động cụ thể để giữ gìn, phát triển những nét đẹp văn hóa truyền thống của quê hương. - Lí giải: Vì quê hương không chỉ là nơi sinh ra và lớn lên, mà còn là cội nguồn nuôi đường tâm hôn, hun đúc lòng yêu nước và ý chí vươn lên trong mỗi người II. PHẦN VIẾT (6,0 điểm) Câu 1. (2,0 điểm) Bài làm có thể triển khai theo nhiều cách, sau đây là gợi ý sau: 1. Mở đoạn Giới thiệu tác giả, bài thơ và nêu cảm xúc chung về vẻ đẹp của quê hương trong đoạn thơ. 2. Thân đoạn - Vẻ đẹp lịch sử - anh hùng: khắc họa một bức tranh quê hương tươi đẹp. tự hào, nơi lưu giữ những chiến công hiển hách của các anh hùng dân tộc như bà Trưng, bà Triệu, Lê Lợi, Hùng Đạo vương.... - Vẻ đẹp văn hoá - tỉnh thần: khắc họa những giá trị văn hóa đặc sắc như múa xoẻ, hát dùm, các hội xuân, đêm chèo, và những tác phẩm văn học nổi tiếng như “Bình Ngô đại cáo" của Nguyễn Trãi, “Truyện Kiều" của Nguyễn Du, qua đó thể hiện vẻ đẹp đa dạng và phong phú của văn hóa dân tộc. - Vẻ đẹp trí tuệ - nhân vân: Điệp ngữ “có”... nhắc đến Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, “Bình Ngô đại cáo", "Truyện Kiểu" là thể hiện sự tự hào về tinh hoa văn chương dân tộc - Quê hương là nơi sản sinh ra những danh nhân và kiệt tác để đời. DeThiVan.com Bộ 13 Đề thi vào 10 môn Văn Bình Định (Có đáp án) - DeThiVan.com - Nghệ thuật: + Hệ thống hình ảnh đặc sắc + Mạch thơ uyển chuyên, tự nhiên + Ngôn từ giản dị, trong sáng, giảu hình ảnh + Biện pháp tu từ (điệp ngữ, ẩn dụ, liệt kê, so sánh...) 3. Kết đoạn Khẳng định vẻ đẹp toàn diện của quê hương qua hai khổ thơ. Câu 2. (4,0 điểm) Bài làm có thể triển khai theo nhiều cách Gợi ý: 1. Mở bài: Giới thiệu vẫn để NL. 2. Thân bài a. Giải thích - Giá trị truyền thống dân tộc: Là những nét đẹp văn hóa, đạo lý, phong tục tập quán, tư tưởng, tinh thần... được hun đúc và lưu truyền từ đời này sang đời khác như lòng yêu nước, nhân ái, cân củ, lễ nghĩa, tôn sư trọng đạo, văn hóa ẩm thực, trang phục, tiếng nói, chữ viết... -Toàn cầu hóa: Là quá trình các quốc gia xích lại gần nhau hơn về kinh tế, văn hóa, khoa học - công nghệ... tạo nên một thế giới "phâng". - Hội nhập: Là việc đất nước tham gia sâu vào các tổ chức, hoạt động quốc tế trên nhiều lĩnh vực => Trong quá trình hội nhập, giữ gìn và phát huy truyền thống dân tộc vừa là bảo vệ cốt lõi bản sắc văn hóa, vừa là khẳng định vị thế và bản lĩnh dân tộc Việt Nam trên trường quốc tế. b. Ý nghĩa - Truyền thống là cội nguồn của dân tộc, tạo nên bản sắc riêng, không thể bị hòa tan trong dòng chảy toàn cầu hóa. - Là động lực tinh thân to lớn giúp con người giữ được bản lĩnh, lòng tự tôn và định hướng đúng đắn trong phát triển. - Phát huy giá trị truyền thống sẽ giúp đất nước vừa hiện đại, vừa không đánh mất gốc rẻ văn hóa. - Là cách để quảng bá hình ảnh Việt Nam ra thế giới thông qua du lịch, ẩm thực, ngôn ngữ, nghệ thuật dân gian... - Dẫn chứng: HS lây dẫn chứng phù hợp c. Thực trạng Nhiều giá trị truyền thông được bảo tồn và tôn vinh: áo áo dài chữ Quốc ngữ, ca trù, quan họ, Tết cổ truyền, nghi lễ dân gian, đi sản vật thể và phi vật thể... - Tuy nhiên, cũng có hiện tượng lại căng, chạy theo trào lưu nước ngoài, coi nhẹ truyên thông (lối sông thực dụng, ăn mặc phản cảm. sinh ngoại ngữ, thờ ơ với lễ hội dân tộc...). - Một số giá trị truyên thông đang bị mai một. d. Nguyên nhân - Tác động mạnh mẽ của quá trình toàn cầu hóa khiến nhiều người, đặc biệt là giới trẻ dễ bị cuốn theo các trào lưu, văn hóa nước ngoài. Ý thức giữ gìn truyên thông dân tộc của một bộ phận người dân còn hạn chẽ, coi thường hoặc lãng quên những giá trị xưa cũ. e. Giải pháp DeThiVan.com Bộ 13 Đề thi vào 10 môn Văn Bình Định (Có đáp án) - DeThiVan.com - Nâng cao nhận thức trong mỗi cá nhân, đặc biệt là giới trẻ về vai trò và giá trị của truyền thông dân tộc. - Giáo dục văn hóa dân tộc trong nhà trường, gia đình và xã hội. - Kết hợp hài hòa giữa truyền thông và hiện đại, không bảo thủ cũng không lại căng. - Ứng dụng công nghệ để bảo tồn và truyền bá giá trị truyền thông (số hóa di sản, quảng bá văn hóa qua mạng xã hội...). - Nhà nước cân xây dựng chính sách và đầu tư phù hợp, hỗ trợ các nghệ nhân, làng nghề, các di sản văn hóa... (HS lấy dẫn chứng minh hoa phù hợp) 3. Kết bài - Khẳng định lại vẫn đề: Giữ gìn và phát huy giá trị truyền thông là trách nhiệm và sứ mệnh cao cả của mỗi người dân Việt Nam, đặc biệt trong bối cảnh toàn cầu hóa. DeThiVan.com Bộ 13 Đề thi vào 10 môn Văn Bình Định (Có đáp án) - DeThiVan.com ĐỀ SỐ 2 SỞ GIÁO DỤC – ĐÀO TẠO KỲ THI TUYỂN SINH VÀO LỚP 10 THPT BÌNH ĐỊNH Năm học 2024-2025 Môn thi : NGỮ VĂN ĐỀ CHÍNH THỨC Thời gian làm bài: 120 phút (Không kể thời gian phát đề) Phần I (4,0 điểm) Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu: “Từ hôm nay, hai bàn chân của con đã chính thức giẫm lên trái đất. Bắt đầu đi. Từ những bước chập chững loanh quanh trong nhà, dựa dẫm vào ba mẹ, đứa trẻ lớn dần và đi bằng đôi chân chính mình. Ba luôn mong mọi điều tốt đẹp, với con. Đi ngược xuôi dòng đời hàng tỉ người, nhưng không phải ai cũng đủ nội lực. Họ đi bằng đôi chân của người khác. Ba không muốn và không thích điều này xảy ra với con. [] Hãy tin rằng, trên đường đời xa vạn dặm ấy, phía sau bao giờ cũng có cha mẹ ngóng theo – điểm tựa vững chắc nhất, đáng tin cậy nhất. Vì thế, trước bất trắc chỉ mong con đừng sợ hãi. Không sợ hãi là lúc con dựa vào điểm tựa: Chính mình. Chẳng phải triết lí sâu xa gì cả. Rất đơn giản nếu con được trang bị sự tự tin. Tin rằng, đến một ngày nào đó với hai bàn tay, một khối óc thì con có thể sống một cách đàng hoàng, có ích và lương thiện. Là chính mình, không là bản sao, không cầu cạnh, dựa dẫm vào ai khác.” (Trích Từng ngày ba mẹ theo con – Lê Minh Quốc, NXB Kim Đồng, Hà Nội, 2022, tr.131) Câu 1. Xác định 02 phương thức biểu đạt của đoạn trích. Câu 2. Chỉ ra các phép liên kết hình thức được sử dụng trong những câu sau: “Hãy tin rằng, trên đường đời xa vạn dặm ấy, phía sau bao giờ cũng có cha mẹ ngóng theo – điểm tựa vững chắc nhất, đáng tin cậy nhất. Vì thế, trước bất trắc chỉ mong con đừng sợ hãi. Không sợ hãi là lúc con dựa vào điểm tựa: Chính mình.” Câu 3. Vì sao người cha muốn “trước bất trắc chỉ mong con đừng sợ hãi”? Câu 4. Viết một đoạn văn (khoảng 10–15 dòng) trình bày suy nghĩ của em về lời khuyên: hãy là chính mình, không cầu cạnh, dựa dẫm vào ai khác. Phần II (6,0 điểm) “[] Còn chúng tôi thì chạy trên cao điểm cả ban ngày. Mà ban ngày chạy trên cao điểm không phải chuyện chơi. Thần chết là một tay không thích đùa. Hắn là lão trùm suốt những quả bom. Tôi bây giờ còn một vết thương chưa lành ở đùi. Tất nhiên, tôi không vào viện quân y. Việc nào cũng có cái thú của nó. Có ở đâu như thế này không: đất bốc khói, không khí bàng hoàng, máy bay địch ầm ầm xé nát. Thần kinh căng như chão, tim đập bất chấp nhịp điệu, chân chạy mà vẫn biết khắp chung quanh còn nhiều quả bom chưa nổ. Có thể nó nổ bây giờ, có thể chốc nữa. Nhưng nhất định sẽ nổ Rồi khi xong việc, quay lại nhìn cảnh đoạn đường một lần nữa, thở phào, chạy về hang. [] Tôi thích nhiều bài hát. Những bài hành khúc đội pháo hay hát trên những ngả đường mặt trận. Tôi thích dân ca quan họ mềm mại, dịu dàng. Thích “Ca-chiu-sa” của Hồng quân Liên Xô. Thích ngồi bó gối mơ màng: “Về đây khi mái tóc còn xanh” [] Chị Thao hát: “Đây Thăng Long, đây Đông Đô”. Hà Nội Nhạc sắt bền, còn giọng thì chua, chị không hát trôi chảy được bài nào. Nhưng chị lại DeThiVan.com Bộ 13 Đề thi vào 10 môn Văn Bình Định (Có đáp án) - DeThiVan.com có cái duyên dễ sợ, chép bài hát. Rồi là ngồi chép bài hát. Thậm chí, say mê chép cả những lời tôi tự bịa ra nữa.” (Trích Những ngôi sao xa xôi – Lê Minh Khuê, Ngữ văn 9, tập hai, NXB Giáo dục Việt Nam, 2018, tr.114-119) Cảm nhận về vẻ đẹp của những cô thanh niên xung phong trong phần trích trên. Từ đó, liên hệ với hình ảnh của thế hệ trẻ trong thực tế đời sống để thấy được vẻ đẹp của sức trẻ Việt Nam. DeThiVan.com Bộ 13 Đề thi vào 10 môn Văn Bình Định (Có đáp án) - DeThiVan.com HƯỚNG DẪN GIẢI Phần I (4,0 điểm) Câu 1. Cách giải: Hai phương thức biểu đạt chính: tự sự, nghị luận. Câu 2. Cách giải: - Phép nối: vì thế - Phép lặp: sợ hãi, con, điểm tựa Câu 3. Cách giải: - Người cha muốn con “trước bất trắc chỉ mong con đừng sợ hãi” là bởi: + Trên đường đời xa vạn dặm, phía sau luôn có cha mẹ ngóng theo. Cha mẹ chính là điểm tựa vững chắc, đáng tin cậy nhất. + Không sợ hãi cũng là lúc con có thể dựa vào điểm tựa: chính mình. Câu 4. Cách giải: Yêu cầu về hình thức: Đoạn văn khoảng 12–15 dòng, không mắc lỗi diễn đạt, dùng từ. Đảm bảo đủ 3 phần: mở đoạn, thân đoạn, kết đoạn. Yêu cầu về nội dung: Làm sáng tỏ ý nghĩa của việc sống là chính mình. Gợi ý triển khai: 1. Giới thiệu vấn đề: hãy là chính mình, không cầu cạnh, dựa dẫm vào ai khác. 2. Bàn luận: - Hãy là chính mình là sống thật với suy nghĩ, cảm xúc của bản thân, không lo lắng trước đánh giá của người khác. - Không cầu cạnh giúp ta sống độc lập, tự chủ. - Mỗi người có điểm riêng, không cần trở thành bản sao của ai. - Sống là chính mình giúp con người hạnh phúc, tìm được ý nghĩa cuộc sống. - Cần phân biệt sống là chính mình với sống bảo thủ, cố chấp. 3. Tổng kết vấn đề. II. LÀM VĂN * Yêu cầu hình thức: - Bài viết đảm bảo cấu trúc của một bài văn gồm 3 phần: + Mở bài + Thân bài + Kết bài - Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp tiếng Việt Yêu cầu về nội dung: Bài viết đảm bảo những nội dung sau đây: 1. Giới thiệu chung Tác giả: DeThiVan.com Bộ 13 Đề thi vào 10 môn Văn Bình Định (Có đáp án) - DeThiVan.com - Thuộc thế hệ nhà văn trưởng thành trong kháng chiến chống Mĩ. Bà gia nhập thanh niên xung phong và bắt đầu sáng tác vào đầu những năm 70. - Lê Minh Khuê thành công ở thể loại truyện ngắn: + Trong chiến tranh, hầu hết sáng tác của bà tập trung viết về cuộc sống, chiến đấu của tuổi trẻ ở tuyến đường Trường Sơn. + Sau 1975, sáng tác của Lê Minh Khuê bám sát những chuyển biến của đời sống xã hội và con người trên tinh thần đổi mới. - Sáng tác của Lê Minh Khuê cuốn hút người đọc nhờ lối viết giản dị, tự nhiên, lối kể chuyện sinh động, khả năng phân tích tâm lí nhân vật chân thực, tinh tế. Tác phẩm và đoạn trích: - Tác phẩm được viết năm 1971, giữa lúc cuộc kháng chiến chống Mĩ đang diễn ra ác liệt. - Hai đoạn trích kể về vẻ đẹp anh hùng dũng cảm và vẻ đẹp tâm hồn trong sáng, hồn nhiên của những cô gái thanh niên xung phong. 2. Phân tích - Nho, Thao, Phương Định là những cô gái rất trẻ, họ sống chiến đấu trên “một cái hang lớn dưới chân cao điểm” giữa vùng trọng điểm của tuyến đường Trường Sơn – nơi tập trung nhiều nhất bom đạn của kẻ thù. - Nơi họ sống chỉ có tàn tích của chiến tranh: đường bị đánh lở loét, màu đất đỏ, trắng lẫn lộn, hai bên đường không có lá xanh, có những thân cây bị tước khô cháy, những ngáng lầm lẫn, những tảng đá to, những thùng xăng hoặc những thành ô tô méo mó, han rỉ nằm trong đất. ⇒ Tượng trưng như một thế giới chết, không có dấu hiệu của sự sống. Hoàn cảnh sống ấy cho thấy các khốc liệt của chiến tranh, sự khó khăn gian khổ mà con người phải trải qua. - Công việc của họ đặc biệt nguy hiểm: + Quan sát địch ném bom, sau mỗi lần đó lại lao ra trọng điểm đo khối lượng đất đá bị đào xới, đếm những quả bom chưa nổ và phá bom. + Phải thường xuyên đối mặt với cái chết. 2.1 Đoạn 1: Vẻ đẹp phẩm chất: dũng cảm, kiên cường của những cô gái thanh niên xung phong - Đoạn văn nói lên công việc vô cùng nguy hiểm của những cô gái thanh niên xung phong. - Hoàn cảnh: + Chạy trên cao điểm ban ngày → địa điểm vô cùng nguy hiểm, có thể bị bom đánh bất cứ lúc nào. + Không khí đậm mùi chết chóc: đất bốc khói, không khí bàng hoàng, máy bay ầm ì xa dần. + Bom nổ lẫn khuất, nó là tay thần chết không thích đùa, có thể cướp đi tính mạng của các cô gái bất cứ lúc nào. => Hoàn cảnh có nhiều nguy hiểm, khó khăn. - Các cô gái: + Thần kinh căng như chão, tim đập bất chấp cả nhịp điệu. + Khi xong việc mới dám thở phào, nhẹ nhõm. + Họ thường xuyên phải đối mặt với cái chết. “Thần chết là tay không thích đùa. Hắn lẩn trốn trong ruột những quả bom”. Họ bị bom vùi là chuyện bình thường. Công việc thường ngày ấy khiến thần kinh họ luôn căng thẳng, đòi hỏi có sự bình tĩnh, dũng cảm. DeThiVan.com
File đính kèm:
bo_13_de_thi_vao_10_mon_van_binh_dinh_co_dap_an.docx

