Bộ 8 Đề thi vào 10 môn Văn Quảng Bình (Có đáp án)

I. ĐỌC – HIỂU (3,0 điểm)

Đọc phần trích sau:

Tiếng Việt mình sâu sắc. Nhân là người. Nhân cũng là hạt. Nhân cũng là lòng yêu thương người khác. Nhìn những anh chị bại liệt cũng trở thành hiệp sĩ công nghệ thông tin giúp đời. Biết những người khiếm thị cũng làm được nghề sửa chữa điện tử, để có ích và giúp người. Lòng tự hứa không thể là hạt lép. Chẳng có lý do gì để không là hạt giống tốt cho mùa sau.

Từ đó ta có bài học về nét tốt của hạt: kiên trì, nhẫn nại, và lòng dũng cảm. Cũng như ta học về việc sống hết mình của hạt thóc: sớm cho mùa vàng, dám chịu xay giã giần sàng. Gạo nuôi người, cám bã nuôi heo, rơm tặng người bạn trâu. Và đến cọng rơm thừa cũng bén thành con cúi giữ lửa suốt đêm trường. Và sưởi ấm cánh đồng mùa đông gió bấc.

Mỗi khi ta cần cỗi, hãy nhớ ta là hạt. Ta lại nghĩ về khoảng xanh ngoài ban công, cũng như bạn thấy những mầm cây đội lên từ khối bê tông đường nhựa. Để chống cho những khiếm khuyết tự bào mòn hay những nỗi buồn tự huỷ.

(Đoàn Công Lê Huy, Gửi em mây trắng, NXB Kim Đồng, 2016)

Thực hiện các yêu cầu:

Câu 1 (0,5 điểm). Xác định phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn trích.

Câu 2 (0,5 điểm). Theo tác giả, ta học được từ hạt những nét tốt nào?

Câu 3 (1,0 điểm). Nêu tác dụng của phép liên kết được sử dụng trong đoạn sau:
“Tiếng Việt mình sâu sắc. Nhân là người. Nhân cũng là hạt. Nhân cũng là lòng yêu thương người khác.”

Câu 4 (1,0 điểm). Thông điệp cuộc sống nào từ đoạn trích có ý nghĩa đối với em? Vì sao?

II. LÀM VĂN (7,0 điểm)

Câu 1 (2,0 điểm).
Hãy viết đoạn văn (khoảng 100 chữ) trình bày suy nghĩ của em về ý nghĩa của việc sống cống hiến.

Câu 2 (5,0 điểm).
Phân tích lời người cha nói với con trong đoạn thơ sau:

Người đồng mình thương lắm con ơi
Cao đo nỗi buồn
Xa nuôi chí lớn
Dẫu làm sao thì cha vẫn muốn

Sống trên đá không chê đá gập ghềnh
Sống trong thung không chê thung nghèo đói
Sống như sông như suối
Lên thác xuống ghềnh
Không lo cực nhọc

Người đồng mình thô sơ da thịt
Chẳng mấy ai nhỏ bé đâu con
Người đồng mình tự đục đá kê cao quê hương
Còn quê hương thì làm phong tục

Con ơi tuy thô sơ da thịt
Lên đường
Không bao giờ nhỏ bé được
Nghe con.

(Trích Nói với con, Y Phương, Ngữ văn 9, tập 2, NXB Giáo dục Việt Nam, 2019, tr. 72-73)

-------------------- Hết --------------------

HƯỚNG DẪN GIẢI

I. ĐỌC HIỂU

Câu 1. Phương thức biểu đạt chính: nghị luận.

Câu 2. Ta học được: kiên trì, nhẫn nại và lòng dũng cảm.

Câu 3. Phép liên kết lặp: Nhân là

Tác dụng: nhằm nhấn mạnh “nhân” có rất nhiều ý nghĩa từ đó thể hiện sự sâu sắc của tiếng Việt.

Câu 4. Dựa vào bài đọc hiểu học sinh tự rút ra cho mình bài học phù hợp.

Gợi ý: Phải luôn kiên trì, nhẫn nại, …

II. LÀM VĂN

Câu 1.

Yêu cầu về hình thức: Đoạn văn khoảng 100 chữ, không mắc lỗi diễn đạt, dùng từ. Đảm bảo đủ 3 phần: mở đoạn, thân đoạn, kết đoạn.

Yêu cầu về nội dung: Làm sáng tỏ được ý nghĩa của sống cống hiến.

Bài làm có thể triển khai theo nhiều cách, sau đây là gợi ý của Tuyensinh247.com

* Nêu vấn đề: Ý nghĩa của những cống hiến trong cuộc sống.

* Bàn luận:
Học sinh có thể lựa chọn các thao tác lập luận phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận theo nhiều cách khác nhau miễn là hợp lí, khoa học, thuyết phục. Có thể theo hướng sau:

- Cống hiến: Là sự hi sinh, đóng góp một cách âm thầm không khoa trương, không để nhiều người biết.

- Ý nghĩa của sự cống hiến:

+ Sự cống hiến sẽ giúp con người đẩy xa cái tôi cá nhân, sự ích kỉ, nhỏ nhen của mình để từ đó hướng tới những điều tốt đẹp hơn.

+ Người sống cống hiến sẽ là người có tình yêu thương, tính tự giác cao, từ đó làm cho cuộc sống của mình ngày càng phát triển theo hướng tốt hơn.

* Kết đoạn: Bài học nhận thức và hành động.

- Liên hệ bản thân.

Học sinh chú ý đưa ra những dẫn chứng cụ thể cho mỗi luận điểm của mình.

Câu 2.

* Yêu cầu về hình thức:

- Bài viết đảm bảo cấu trúc của một bài văn gồm 3 phần:

+ Mở bài: nêu được vấn đề.

+ Thân bài: triển khai được vấn đề.

+ Kết bài: khái quát được vấn đề.

- Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp tiếng Việt.

* Yêu cầu về nội dung:

Bài viết đảm bảo những nội dung sau đây:

1. Mở bài:

- Giới thiệu chung về tác giả Y Phương, tác phẩm Nói với con.

- Giới thiệu vị trí và nội dung đoạn trích.

2. Thân bài

- Những phẩm chất cao quý của người đồng mình:

“Người đồng mình…
… chí lớn”

+ Dòng thơ đầu được lặp lại: “người đồng mình” là cách gọi thể hiện sự gần gũi, thân thương như trong một gia đình. “Thương lắm” – bày tỏ sự đồng cảm sâu sắc với cuộc sống nhiều vất vả, gian khó của họ.

+ Từ ngữ giàu sức gợi: “cao” “xa” vừa gợi là miền núi cao vừa gợi điều kiện sống khó khăn, vất vả. “Nỗi buồn” “chí lớn” thể hiện bản lĩnh vững vàng, ý chí kiên cường của người đồng mình.

⇒ Lời thơ là quát một nỗi buồn xen lẫn niềm tự hào về phẩm chất tốt đẹp của người miền núi.

- Tác giả khái quát lên vẻ đẹp truyền thống của người miền cao:

“Người đồng mình…
… làm phong tục”

+ Hình ảnh “người đồng mình”: vóc dáng, hình hài nhỏ bé, “thô sơ da thịt”, họ chỉ có đôi bàn tay lao động cần cù nhưng chẳng mấy ai nhỏ bé, yếu hèn. Họ dám đương đầu với gian lao, vất vả, họ lớn lao về ý chí, cao cả về tinh thần.

+ Công lao vĩ đại của người đồng mình: “đục đá kê cao quê hương” – xây dựng quê hương, tạo nên ruộng đồng, dựng lên nhà cửa, bản làng, làm nên giá trị vật chất, tinh thần cho quê hương. “Làm phong tục” – tạo nên bao nếp, phong tục đẹp, làm nên bản sắc riêng của cộng đồng.

⇒ Lời thơ tràn đầy niềm tự hào về vẻ đẹp của người đồng mình. Nhắn gửi con phải biết kế thừa, phát huy những truyền thống đó.

- Từ đó, người cha khuyên con biết sống theo những truyền thống của người đồng mình:

“Dẫu làm sao…
… không lo cực nhọc”

+ Điệp từ “sống” khởi đầu 3 dòng thơ liên tiếp, tô đậm mong ước thiết tha, mãnh liệt của cha dành cho con.

+ Ẩn dụ “đá” “thung” chỉ không gian sống của người miền cao, gợi lên những nhọc nhằn, gian khó, đói nghèo. Người cha mong con “không chê” tức là biết yêu thương, trân trọng quê hương mình.

+ So sánh “như sông” “như suối”: lối sống hồn nhiên, trong sáng, mạnh mẽ, phóng khoáng, vượt lên mọi gập ghềnh của cuộc đời.

+ Đối “lên thác xuống ghềnh”: cuộc sống không dễ dàng, bằng phẳng, cần dũng cảm đối mặt, không ngại gian nan.

⇒ Cha khuyên con tiếp nối tình cảm ân nghĩa, thủy chung với mảnh đất nơi mình sinh ra của người đồng mình và có lòng can đảm, ý chí kiên cường của họ.

- Để rồi, bài thơ khép lại bằng lời dặn dò vừa ân cần, vừa nghiêm khắc của người cha:

“Con ơi…
… nghe con”

+ Hình ảnh “thô sơ da thịt” được nhắc lại để nhấn mạnh những khó khăn, thử thách mà con có thể gặp trên đường đời, bởi con còn non nớt, con chưa đủ hành trang mà đời thì gập ghềnh, gian khó.

+ Dẫu vậy, “không bao giờ nhỏ bé được” mà phải biết đương đầu với khó khăn, vượt qua thách thức, không được sống yếu hèn, hẹp hòi, ích kỉ. Phải sống sao cho xứng đáng với cha mẹ, với người đồng mình. Lời nhắn nhủ chứa đựng sự yêu thương, niềm tin tưởng mà người cha dành cho con.

⇒ Trách nhiệm của thế hệ trẻ:

- Chăm chỉ học tập, bồi dưỡng tri thức để sau này xây dựng đất nước.

- Bồi dưỡng về nhân cách, đạo đức để trở thành một công dân tốt.

- Có mục tiêu phấn đấu rõ ràng, sẵn sàng cống hiến, phục vụ cho sự phát triển chung của đất nước.

- …

3. Kết bài

- Nội dung:

+ Thể hiện tình cảm sâu nặng mà người cha dành cho con. Cha chăm nom con từng bước đi, nâng niu con từng tiếng cười, giọng nói và dạy con biết vững bước trên đường đời, biết sống sao cho xứng đáng với gia đình, quê hương.

+ Bộc lộ tình yêu quê hương xứ sở và niềm tự hào về người đồng mình của tác giả.

- Nghệ thuật:

+ Từ ngữ, hình ảnh giản dị, giàu sức gợi, in đậm lối tư duy trong sáng, hồn nhiên, sinh động của người miền núi.

+ Giọng điệu khi ân cần, tha thiết; khi mạnh mẽ, nghiêm khắc.



docx 31 trang Đinh Gấm 28/04/2026 70
Bạn đang xem 30 trang mẫu của tài liệu "Bộ 8 Đề thi vào 10 môn Văn Quảng Bình (Có đáp án)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

Tóm tắt nội dung tài liệu: Bộ 8 Đề thi vào 10 môn Văn Quảng Bình (Có đáp án)

Bộ 8 Đề thi vào 10 môn Văn Quảng Bình (Có đáp án)
 Bộ 8 Đề thi vào 10 môn Văn Quảng Bình (Có đáp án) - DeThiVan.com
 DeThiVan.com Bộ 8 Đề thi vào 10 môn Văn Quảng Bình (Có đáp án) - DeThiVan.com
 ĐỀ SỐ 1
 KÌ THI TUYỂN SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
 SỞ GD&ĐT QUẢNG BÌNH
 NĂM HỌC 2025 – 2026
 Môn: Ngữ văn
 ĐỀ CHÍNH THỨC
 Thời gian: 120 phút (không kể thời gian giao đề)
I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Đọc đoạn trích sau:
 HẠ ĐỎ
 Mùa hè năm đó là mùa hè quê ngoại. 
 Cuối năm lớp chín, tôi học bù đầu, người xanh như tàu lá. Ngày nào mẹ tôi cũng mua bí đỏ về nấu 
canh cho tôi ăn. Mẹ bảo bí đỏ bổ óc, ăn vào học bài sẽ mau thuộc. Trước nay, tôi vốn thích món này. Bí đỏ 
nấu với đậu phộng thêm vài cọng rau om, ngon hết biết. Nhưng ngày nào cũng phải buộc ăn món đó, tôi 
đâm ngán. Hơn nữa, dù dạ dày tôi bấy giờ tuyền một màu đỏ, trí nhớ tôi vẫn chẳng khá lên chút nào. Tôi 
học trước quên sau, học sau quên trước. Vì vậy tôi phải học gấp đôi những đứa khác. 
 Tối, tôi thức khuya lơ khuya lắc. Sáng, tôi dậy từ lúc trời còn tờ mờ. Mắt tôi lúc nào cũng đỏ kè. Ba 
tôi bảo : 
 - Nhất định đầu thằng Chương bị hở một chỗ nào đó. Chữ nghĩa đổ vô bao nhiêu rớt ra bấy nhiêu. Thế 
nào sang năm cũng phải hàn lại. 
 Mẹ tôi khác ba tôi. Mẹ không phải là đàn ông. Mẹ không nỡ bông phèng trước thân hình còm nhom 
của tôi. Mẹ xích lại gần tôi, đưa tay nắn nắn khớp xương đang lồi ra trên vai tôi, bùi ngùi nói : 
 - Mày học hành cách sao mà càng ngày mày càng giống con mắm vậy Chương ơi ! 
Giọng mẹ tôi như một lời than. Tôi mỉm cười trấn an mẹ: 
 - Mẹ đừng lo! Qua kỳ thi này, con lại mập lên cho mẹ coi! 
 Không hiểu mẹ có tin lời tôi không mà tôi thấy mắt mẹ rưng rưng. Thấy mẹ buồn, tôi cũng buồn lây. 
Nhưng tôi chẳng biết cách nào an ủi mẹ. Tôi đành phải nín thở nuốt trọn một tô canh bí đỏ cho mẹ vui 
lòng. 
 Dù sao, công của tôi không phải là công cốc. Những ngày thức khuya dậy sớm đã không phản bội 
lại tôi. Kỳ thi cuối năm, tôi xếp hạng khá cao. 
Ba tôi hào hứng thông báo: 
- Sang năm ba sẽ mua cho con một chiếc xe đạp. 
Mẹ tôi chẳng hứa hẹn gì. Mẹ chỉ “thưởng” tôi một cái cốc trên trán: 
- Cha mày! Từ nay lo mà ăn ngủ cho lại sức nghe chưa! 
 Ba tôi vui. Mẹ tôi vui. Nhưng tôi mới là người vui nhất. Tôi đàng hoàng chia tay với những tô canh 
bí đỏ mà không sợ mẹ tôi thở dài. Dù sao thì cũng cảm ơn mày, cơn ác mộng của tao, nhưng bây giờ xin 
tạm biệt nhé! Tôi cúi đầu nói thầm với trái bí cuối cùng đang nằm lăn lóc trong góc bếp trước khi cung tay 
cốc cho nó một phát. 
 (Trích Hạ đỏ, Nguyễn Nhật Ánh, Nxb Trẻ, 2019, tr.5–7)
 DeThiVan.com Bộ 8 Đề thi vào 10 môn Văn Quảng Bình (Có đáp án) - DeThiVan.com
Chú thích: Nguyễn Nhật Ánh (1955), quê ở Thăng Bình, Quảng Nam, là một trong những gương mặt 
quen thuộc với bạn đọc các thế hệ, đặc biệt là tuổi mới lớn. Truyện của ông thường nhẹ nhàng, trong sáng 
để lại trong lòng độc giả nhiều dư vị và cảm xúc
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1 (0,5 điểm): Xác định ngôi kể được sử dụng trong đoạn trích
Câu 2 (0,5 điểm): Chỉ rõ thành phần phụ trong câu: “Cuối năm lớp chín, tôi học bù đầu, người xanh như 
tàu lá”. 
Câu 3 (1,0 điểm): Phân tích tác dụng hiệu quả của biện pháp tu từ điệp từ: “Ba tôi vui. Mẹ tôi vui. 
Nhưng tôi mới là người vui nhất”.
Câu 4 (1,0 điểm): Mẹ xích lại gần tôi, đưa tay nắn nắn khớp xương đang lồi ra trên vai tôi, bùi ngùi nói : 
 - Mày học hành cách sao mà càng ngày mày càng giống con mắm vậy Chương ơi ! 
Chi tiết trên gợi cho em cảm nhận gì về nhân vật người mẹ?
Câu 5 (1,0 điểm): Em có đồng tính với cách học “học gấp đôi những đứa khác” của Chương không? Vì 
sao?
II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1 (2,0 điểm)
Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) phân tích vẻ đẹp của nhân vật Chương trong đoạn trích “Hạ đỏ” ở phần 
Đọc hiểu
Câu 2 (4,0 điểm) Ước mơ là ngọn đèn soi sáng con đường đến với tương lai. Tuy nhiên, một bộ phân 
giới trẻ hiện nay đang sống không có ước mơ. Em hãy viết bài văn nghị luận (khoảng 500 chữ) đề xuất 
giải pháp cho thực trạng đó.
 DeThiVan.com Bộ 8 Đề thi vào 10 môn Văn Quảng Bình (Có đáp án) - DeThiVan.com
 HƯỚNG DẪN CHẤM
Phần Câu Nội dung Điểm
 I ĐỌC HIỂU 4,0
 1 Ngôi kể thứ nhất 0,5
 2 Thành phần trạng ngữ: 0,25
 Cuối năm lớp chín 0,25
 3 Hiệu quả biện pháp tu từ điệp từ: “vui” 1,0
 - Làm cho câu văn giàu nhạc điệu, sinh động, biểu cảm, tạo sự kết nối giữa 
 các câu 
 - Nhấn mạnh niềm vui, niềm hân hoan, hạnh phúc vỡ òa lan tỏa trong gia 
 đình, vui nhất là nhân vật Chương khi công sức học tập được đền đáp xứng 
 đáng.
 4 Chi tiết trên gợi cho em cảm nhận về nhân vật người mẹ: 1,0
 - Mẹ là người yêu thương, quan tâm con
 - Mẹ xót xa, lo lắng cho sức khỏe và việc học hành của con
 5 Học sinh có thể quan điểm đồng tình/không đồng tình hoặc cả hai 1,0
 Có lí giải phù hợp, phải liên quan đến nội dung của văn bản và lí giải thuyết 
 phục, hợp lí. 
 (Nêu quan điểm 0,25 điểm; Lí giải phù hợp, thuyết phục 0,25->0,75)
 II VIẾT 6,0
 1 Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) phân tích nhân vật Chương trong văn bản 2,0
 ở phần Đọc hiểu. 
 a. Xác định đúng yêu cầu về hình thức, dung lượng của đoạn văn Đảm bảo 0,25
 yêu cầu hình thức của đoạn văn, dung lượng khoảng 200 chữ. 
 b. Xác định đúng vấn đề nghị luận: Phân tích vẻ đẹp của nhân vật Chương 0,25
 c. Viết đoạn văn đảm bảo các yêu cầu: 
 Lựa chọn được các thao tác lập luận phù hợp, kết hợp chặt chẽ lí lẽ và dẫn 
 chứng. Thí sinh có thể triển khai theo nhiều cách khác nhau, nhưng cần làm 1,0
 sáng rõ được những ý sau: 
 - Vẻ đẹp của nhân vật Chương: 
 + Là cậu bé chăm chỉ, có ý chí, biết nỗ lực, vươn lên trong học tập
 (Học gấp đôi những đứa khác, học khuya lơ khuya lắc; dậy từ lúc trời còn tờ 
 mờ)
 + Là cậ bé ngoan, giàu tình cảm, biết yêu thương cha mẹ.
 (Biết nghe lời, luôn cố gắng để ba mẹ vui lòng, quan tâm đến cảm xúc của ba 
 mẹ,)
 Nghệ thuật khắc họa nhân vật Chương: Ngôi kể thứ nhất tạo sự chân thực; giọng 
 kể hài hước, ngôn ngữ giản dụ; chi tiết đời thường, gần gũi,
 - Đánh giá ý nghĩa nhân vật:
 DeThiVan.com Bộ 8 Đề thi vào 10 môn Văn Quảng Bình (Có đáp án) - DeThiVan.com
 Qua nhân vật Chương tác giả gửi đến người đọc thông điệp sâu sắc; nỗ lực 
 trong học tập; trân trọng tình cảm gia đình. 
 e. Sáng tạo: Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt 0,25
 mới mẻ.
2 Ước mơ là ngọn đèn soi sáng con đường đến với tương lai. Tuy nhiên, một 4,0
 bộ phân giới trẻ hiện nay đang sống không có ước mơ. Em hãy viết bài 
 văn nghị luận (khoảng 500 chữ) đề xuất giải pháp cho thực trạng đó.
 a. Xác định đúng yêu cầu về kiểu bài và dung lượng - Bài nghị luận xã hội, 0,25
 khoảng 500 chữ. 
 b. Xác định đúng vấn đề nghị luận: giải pháp khắc phục thực trạng không có 0,5
 ước mơ 
 c. Viết bài văn nghị luận đảm bảo các yêu cầu: 
 - Lựa chọn được các thao tác lập luận phù hợp, kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và 
 dẫn chứng; trình bày được hệ thống ý phù hợp theo bố cục ba phần của bài văn 
 nghị luận. 
 * Giới thiệu vấn đề: Giới thiệu vấn đề nghị luận 0,25
 * Triển khai vấn đề
 - Giải thích: 
 + Ước mơ là những khát vọng, mong muốn tích cực mà con người hướng tới 0,25
 trong tương lai. 
 + Sống không có ước mơ là sống không mục tiêu, không định hướng, không 
 có khát vọng vươn lên.
 - Thực trạng và nguyên nhân
 Không ít người trẻ sống thiếu ước mơ hoặc sống theo ước mơ của người khác 0,25
 do không hiểu bản thân; thiếu tự tinl thiếu sự quan tâm, định hướng từ gia 
 đình và nhà trường 
 - Hậu quả của việc sống không có ước mơ 
 + Cá nhân dễ rơi vào trạng thái mất phương hướng, hoang mang, dễ bỏ cuộc. 0,5
 + Sống thụ động; thiếu nghị lực và ý chí vương lên trong cuộc sống
 + Dễ bị tác động, dẫn dụ bởi những giá trị lệch lạc. 
 + Ảnh hưởng tiêu cực đến tương lai, khó thành công, dễ tụt hậu.
 + Không phát huy được tiềm năng và giá trị của bản thân; đánh mất cơ hội 
 thành công và đóng góp cho xã hội 
 (* Lưu ý: Nếu HS trình bày vai trò, ý nghĩa của ước mơ thì vẫn cho điểm 
 tương đương)
 - Giải pháp 
 Đối với bản thân: 
 + Khám phá bản thân và thế giới xung quanh để nhận ra năng lực, sở thích, 1,5
 đam mê, cơ hộc và thách thức từ đó định hướng được mục tiêu phù hợp
 + Kiên trì, nỗ lực, trau dồi tri thức, kĩ năng để thực hiện hóa ước mơ.
 DeThiVan.com Bộ 8 Đề thi vào 10 môn Văn Quảng Bình (Có đáp án) - DeThiVan.com
 + Học hỏi những người thành công để có thêm định hướng, động lực, niềm 
 tin. 
 Đối với gia đình: 
 + Lắng nghe, định hướng nhưng không áp đặt ước mơ của con. 
 + Khuyến khích con khám phá bản thân, tạo môi trường nuôi dưỡng ước mơ. 
 Đối với nhà trường và xã hội:
 + Đổi mới phương pháp giáo dục, tạo điều kiện để học sinh phát triển toàn 
 diện.
 + Truyền cảm hứng sống tích cực, khơi gợi khát vọng thông qua các hoạt 
 động thực tiễn. 
 + Tăng cường các chương trình tư vấn tâm lý, hướng nghiệp cho học sinh, 
 sinh viên. 
 (Lưu ý: Nếu HS trình bày được 3 giải pháp trở lên thù cho điểm tối đa ý này. 
 Nếu HS trình bày nhũng giải pháp khác nhưng hợp lí thì vẫn cho điểm tương 
 đương) 0,25
 * Kết thúc vấn đề: Khẳng định vấn đề, liên hệ bản thân
 e. Sáng tạo: Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận, có cách diễn đạt 0,25
 mới mẻ.
 TỔNG 10,0
 DeThiVan.com Bộ 8 Đề thi vào 10 môn Văn Quảng Bình (Có đáp án) - DeThiVan.com
 ĐỀ SỐ 2
 KÌ THI TUYỂN SINH VÀO LỚP 10 THPT
 SỞ GD&ĐT QUẢNG BÌNH
 NĂM HỌC 2024 - 2025
 Môn: Ngữ văn
 ĐỀ CHÍNH THỨC
 Thời gian: 120 phút (không kể thời gian giao đề)
I. ĐỌC – HIỂU (3,0 điểm)
Đọc phần trích sau:
 Tiếng Việt mình sâu sắc. Nhân là người. Nhân cũng là hạt. Nhân cũng là lòng yêu thương người 
khác. Nhìn những anh chị bại liệt cũng trở thành hiệp sĩ công nghệ thông tin giúp đời. Biết những người 
khiếm thị cũng làm được nghề sửa chữa điện tử, để có ích và giúp người. Lòng tự hứa không thể là hạt 
lép. Chẳng có lý do gì để không là hạt giống tốt cho mùa sau.
 Từ đó ta có bài học về nét tốt của hạt: kiên trì, nhẫn nại, và lòng dũng cảm. Cũng như ta học về 
việc sống hết mình của hạt thóc: sớm cho mùa vàng, dám chịu xay giã giần sàng. Gạo nuôi người, cám 
bã nuôi heo, rơm tặng người bạn trâu. Và đến cọng rơm thừa cũng bén thành con cúi giữ lửa suốt đêm 
trường. Và sưởi ấm cánh đồng mùa đông gió bấc.
 Mỗi khi ta cần cỗi, hãy nhớ ta là hạt. Ta lại nghĩ về khoảng xanh ngoài ban công, cũng như bạn 
thấy những mầm cây đội lên từ khối bê tông đường nhựa. Để chống cho những khiếm khuyết tự bào mòn 
hay những nỗi buồn tự huỷ.
(Đoàn Công Lê Huy, Gửi em mây trắng, NXB Kim Đồng, 2016)
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1 (0,5 điểm). Xác định phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong đoạn trích.
Câu 2 (0,5 điểm). Theo tác giả, ta học được từ hạt những nét tốt nào?
Câu 3 (1,0 điểm). Nêu tác dụng của phép liên kết được sử dụng trong đoạn sau:
“Tiếng Việt mình sâu sắc. Nhân là người. Nhân cũng là hạt. Nhân cũng là lòng yêu thương người khác.”
Câu 4 (1,0 điểm). Thông điệp cuộc sống nào từ đoạn trích có ý nghĩa đối với em? Vì sao?
II. LÀM VĂN (7,0 điểm)
Câu 1 (2,0 điểm).
Hãy viết đoạn văn (khoảng 100 chữ) trình bày suy nghĩ của em về ý nghĩa của việc sống cống hiến.
Câu 2 (5,0 điểm).
Phân tích lời người cha nói với con trong đoạn thơ sau:
 Người đồng mình thương lắm con ơi
 Cao đo nỗi buồn
 Xa nuôi chí lớn
 Dẫu làm sao thì cha vẫn muốn
 Sống trên đá không chê đá gập ghềnh
 Sống trong thung không chê thung nghèo đói
 Sống như sông như suối
 DeThiVan.com Bộ 8 Đề thi vào 10 môn Văn Quảng Bình (Có đáp án) - DeThiVan.com
 Lên thác xuống ghềnh
 Không lo cực nhọc
 Người đồng mình thô sơ da thịt
 Chẳng mấy ai nhỏ bé đâu con
 Người đồng mình tự đục đá kê cao quê hương
 Còn quê hương thì làm phong tục
 Con ơi tuy thô sơ da thịt
 Lên đường
 Không bao giờ nhỏ bé được
 Nghe con.
(Trích Nói với con, Y Phương, Ngữ văn 9, tập 2, NXB Giáo dục Việt Nam, 2019, tr. 72-73)
 -------------------- Hết --------------------
 DeThiVan.com Bộ 8 Đề thi vào 10 môn Văn Quảng Bình (Có đáp án) - DeThiVan.com
 HƯỚNG DẪN GIẢI
I. ĐỌC HIỂU
Câu 1. Phương thức biểu đạt chính: nghị luận.
Câu 2. Ta học được: kiên trì, nhẫn nại và lòng dũng cảm.
Câu 3. Phép liên kết lặp: Nhân là
Tác dụng: nhằm nhấn mạnh “nhân” có rất nhiều ý nghĩa từ đó thể hiện sự sâu sắc của tiếng Việt.
Câu 4. Dựa vào bài đọc hiểu học sinh tự rút ra cho mình bài học phù hợp.
Gợi ý: Phải luôn kiên trì, nhẫn nại, 
II. LÀM VĂN
Câu 1.
Yêu cầu về hình thức: Đoạn văn khoảng 100 chữ, không mắc lỗi diễn đạt, dùng từ. Đảm bảo đủ 3 phần: 
mở đoạn, thân đoạn, kết đoạn.
Yêu cầu về nội dung: Làm sáng tỏ được ý nghĩa của sống cống hiến.
Bài làm có thể triển khai theo nhiều cách, sau đây là gợi ý của Tuyensinh247.com
* Nêu vấn đề: Ý nghĩa của những cống hiến trong cuộc sống.
* Bàn luận:
Học sinh có thể lựa chọn các thao tác lập luận phù hợp để triển khai vấn đề nghị luận theo nhiều cách 
khác nhau miễn là hợp lí, khoa học, thuyết phục. Có thể theo hướng sau:
- Cống hiến: Là sự hi sinh, đóng góp một cách âm thầm không khoa trương, không để nhiều người biết.
- Ý nghĩa của sự cống hiến:
+ Sự cống hiến sẽ giúp con người đẩy xa cái tôi cá nhân, sự ích kỉ, nhỏ nhen của mình để từ đó hướng tới 
những điều tốt đẹp hơn.
+ Người sống cống hiến sẽ là người có tình yêu thương, tính tự giác cao, từ đó làm cho cuộc sống của 
mình ngày càng phát triển theo hướng tốt hơn.
* Kết đoạn: Bài học nhận thức và hành động.
- Liên hệ bản thân.
Học sinh chú ý đưa ra những dẫn chứng cụ thể cho mỗi luận điểm của mình.
Câu 2.
* Yêu cầu về hình thức:
- Bài viết đảm bảo cấu trúc của một bài văn gồm 3 phần:
+ Mở bài: nêu được vấn đề.
+ Thân bài: triển khai được vấn đề.
+ Kết bài: khái quát được vấn đề.
- Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp tiếng Việt.
* Yêu cầu về nội dung:
Bài viết đảm bảo những nội dung sau đây:
1. Mở bài:
- Giới thiệu chung về tác giả Y Phương, tác phẩm Nói với con.
- Giới thiệu vị trí và nội dung đoạn trích.
 DeThiVan.com Bộ 8 Đề thi vào 10 môn Văn Quảng Bình (Có đáp án) - DeThiVan.com
2. Thân bài
- Những phẩm chất cao quý của người đồng mình:
 “Người đồng mình
  chí lớn”
+ Dòng thơ đầu được lặp lại: “người đồng mình” là cách gọi thể hiện sự gần gũi, thân thương như trong 
một gia đình. “Thương lắm” – bày tỏ sự đồng cảm sâu sắc với cuộc sống nhiều vất vả, gian khó của họ.
+ Từ ngữ giàu sức gợi: “cao” “xa” vừa gợi là miền núi cao vừa gợi điều kiện sống khó khăn, vất vả. “Nỗi 
buồn” “chí lớn” thể hiện bản lĩnh vững vàng, ý chí kiên cường của người đồng mình.
⇒ Lời thơ là quát một nỗi buồn xen lẫn niềm tự hào về phẩm chất tốt đẹp của người miền núi.
- Tác giả khái quát lên vẻ đẹp truyền thống của người miền cao:
“Người đồng mình
 làm phong tục”
+ Hình ảnh “người đồng mình”: vóc dáng, hình hài nhỏ bé, “thô sơ da thịt”, họ chỉ có đôi bàn tay lao 
động cần cù nhưng chẳng mấy ai nhỏ bé, yếu hèn. Họ dám đương đầu với gian lao, vất vả, họ lớn lao về ý 
chí, cao cả về tinh thần.
+ Công lao vĩ đại của người đồng mình: “đục đá kê cao quê hương” – xây dựng quê hương, tạo nên ruộng 
đồng, dựng lên nhà cửa, bản làng, làm nên giá trị vật chất, tinh thần cho quê hương. “Làm phong tục” – 
tạo nên bao nếp, phong tục đẹp, làm nên bản sắc riêng của cộng đồng.
⇒ Lời thơ tràn đầy niềm tự hào về vẻ đẹp của người đồng mình. Nhắn gửi con phải biết kế thừa, phát huy 
những truyền thống đó.
- Từ đó, người cha khuyên con biết sống theo những truyền thống của người đồng mình:
“Dẫu làm sao
 không lo cực nhọc”
+ Điệp từ “sống” khởi đầu 3 dòng thơ liên tiếp, tô đậm mong ước thiết tha, mãnh liệt của cha dành cho 
con.
+ Ẩn dụ “đá” “thung” chỉ không gian sống của người miền cao, gợi lên những nhọc nhằn, gian khó, đói 
nghèo. Người cha mong con “không chê” tức là biết yêu thương, trân trọng quê hương mình.
+ So sánh “như sông” “như suối”: lối sống hồn nhiên, trong sáng, mạnh mẽ, phóng khoáng, vượt lên mọi 
gập ghềnh của cuộc đời.
+ Đối “lên thác xuống ghềnh”: cuộc sống không dễ dàng, bằng phẳng, cần dũng cảm đối mặt, không ngại 
gian nan.
⇒ Cha khuyên con tiếp nối tình cảm ân nghĩa, thủy chung với mảnh đất nơi mình sinh ra của người đồng 
mình và có lòng can đảm, ý chí kiên cường của họ.
- Để rồi, bài thơ khép lại bằng lời dặn dò vừa ân cần, vừa nghiêm khắc của người cha:
 “Con ơi
  nghe con”
+ Hình ảnh “thô sơ da thịt” được nhắc lại để nhấn mạnh những khó khăn, thử thách mà con có thể gặp 
trên đường đời, bởi con còn non nớt, con chưa đủ hành trang mà đời thì gập ghềnh, gian khó.
 DeThiVan.com

File đính kèm:

  • docxbo_8_de_thi_vao_10_mon_van_quang_binh_co_dap_an.docx