Bộ 16 Đề thi vào 10 môn Văn Ninh Bình (Có đáp án)

PHẦN I. ĐỌC HIỂU VĂN BẢN (4,0 điểm)

Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu:

(Tóm tắt cốt truyện: Tân sinh ra trong một gia đình khá giả ở nông thôn. Vì muốn con có cuộc sống sau này tốt hơn, cha mẹ đã gửi Tân đến ở nhà ông chú trên Hà Nội ngay từ khi còn nhỏ tuổi. Tân hết sức chăm học nên năm mười tám tuổi đã tìm được công việc tốt tại thành phố. Tuy nhiên, gặp thời buổi kinh tế khó khăn, Tân bị mất việc làm, phải sống lang thang, vất vưởng mấy tháng trời. Trong tâm trạng chán nản, thất vọng lại thêm nỗi buồn cha mất, mẹ một mình trông nom ruộng nương không xuể, Tân quyết định về quê và bắt đầu cuộc sống mới của một người dân quê).

Đoạn trích sau tái hiện một ngày lao động của Tân ở quê hương.

[...] Chăm chú vào công việc làm, Tân không để ý đến cảnh vật chung quanh. Chàng cũng không thấy mệt nữa, tuy ánh nắng chiếu trên lưng nóng rát, và mồ hôi từng giọt rơi trên trán xuống. Tân chỉ ý đưa cái hái cho nhanh nhẹn; mỗi lần bông lúa rụng đọng chạm vào mắt, vào người, mùi lúa chín thơm lại phảng phất lần với mùi mồ cát. Mùi thơm đó làm chàng say sưa như men rượu. Tân lại có hết sức gặt, chỉ lo không kịp hàng những người thợ khác.

Buổi sáng, khi Tân ngỏ ý muốn cầm hái xuống gặt, bọn thợ hái chẳng mượn mà mấy hôm nay đều trông chàng mà cười. Một cô gái trong bọn, cặp mắt đen nhìn nhanh đưa vành khăn vuông che kín đầu, nói đùa:

– Ông để mặc chúng tôi, bộ ông thể kia thì gặt được độ ba nén lúa.

Mọi người vui vẻ cười làm Tân cũng cười theo.

[...] Tân tiếc hồi chưa nhớ không ở quê để được sống gần gũi với cảnh vật, cánh đồng, sống bên cạnh những người nhà quê chất phác và mộc mạc. Bây giờ chàng mới biết đến trời đất, đến thời tiết, đến sự thay đổi của mùa no sang mùa kia. Một cơn gió mát, một cái râm non, đối với chàng đều có ý nghĩa.

Tân không dửng dưng như trước với những cái chung quanh mình. Tâm hồn chàng có liên lạc và rung động cùng với những cảnh vật, chẳng có cái cảm giác rằng mình sống.

Buổi chiều, lúa ruộng của Tân đã gặt xong. Cả một cánh đồng chỉ còn trơ cuống rạ. Bọn thợ gặt đã lần lượt đi hết cả trở về. Trên con đường vào làng, các lực điền gánh những gánh lúa vàng nặng trĩu.

Mặt trời đã xế phía bên kia đồi. Ở dưới thung lũng, sương mù lạnh trắng xóa lan ra, lẫn với làn khói toả ở chung quanh các làng. Cỏ bên đường đi đã ướt. Về phía xa có ngon lúa già ai đốt trên sườn rẫy rơm đỏ rực cả trời.

Tân bước nhẹ theo con đường đã thưa người ấy, yên lặng không nói gì, như cùng kính trong cái thời khắc của một ngày tàn. Trong cái khắc ấy, Tân như thấy cảnh vật đều có một cảm xúc thâm trầm; như lớp sương mù kia là tấm hồn của đất làng hoà hợp với tấm hồn của những người...

(Trích: Những ngày mới, Thạch Lam tuyển tập, NXB Văn học, 2012, tr.189 – 194)

Thực hiện các yêu cầu/Trả lời các câu hỏi:

Câu 1 (1,0 điểm). Nêu cơ sở xác định ngôi kể của người kể chuyện trong đoạn trích trên.

Câu 2 (1,0 điểm). Chỉ ra lời nhân vật và lời người kể chuyện qua các câu sau:
Buổi sáng, khi Tân ngỏ ý muốn cầm hái xuống gặt, bọn thợ hái chẳng mượn mà mấy hôm nay đều trông chàng mà cười. Một cô gái trong bọn, cặp mắt đen nhìn nhanh đưa vành khăn vuông che kín đầu, nói đùa:
– Ông để mặc chúng tôi, bộ ông thể kia thì gặt được độ ba nén lúa.
Mọi người vui vẻ cười làm Tân cũng cười theo.

Câu 3 (1,0 điểm). Việc sử dụng biện pháp tu từ điệp từ trong các câu văn dưới đây có tác dụng gì?
Tân chú ý đưa cái hái cho nhanh nhẹn; mỗi lần bông lúa rụng đọng chạm vào mắt, vào người, mùi lúa chín thơm lại phảng phất lần với mùi mồ cát. Mùi thơm đó làm chàng say sưa như men rượu.

Câu 4 (1,0 điểm). Từ tình cảm của Tân khi trở về quê hương, em có suy nghĩ gì về vai trò của quê hương đối với cuộc đời của mỗi con người? (Trả lời trong khoảng từ 5 đến 7 dòng).

PHẦN II. VIẾT (6,0 điểm)

Câu 1 (2,0 điểm). Hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) phân tích nhân vật Tân trong đoạn trích ở phần Đọc hiểu.

Câu 2 (4,0 điểm). Sách là người thầy vĩ đại của con người. Tuy nhiên, xã hội hiện đại với sự phát triển của nhiều hình thức giải trí đã khiến cho một bộ phận học sinh ít đọc sách, thậm chí thờ ơ, dửng dưng với sách. Hãy viết một bài văn (khoảng 500 chữ) trình bày suy nghĩ của em về vấn đề trênđề xuất một số giải pháp để học sinh thay đổi thói quen đọc sách.

docx 72 trang Hương Lăng 27/04/2026 90
Bạn đang xem 30 trang mẫu của tài liệu "Bộ 16 Đề thi vào 10 môn Văn Ninh Bình (Có đáp án)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

Tóm tắt nội dung tài liệu: Bộ 16 Đề thi vào 10 môn Văn Ninh Bình (Có đáp án)

Bộ 16 Đề thi vào 10 môn Văn Ninh Bình (Có đáp án)
 Bộ 16 Đề thi vào 10 môn Văn Ninh Bình (Có đáp án) - DeThiVan.com
 DeThiVan.com Bộ 16 Đề thi vào 10 môn Văn Ninh Bình (Có đáp án) - DeThiVan.com
 ĐỀ SỐ 1
 ĐỀ THI TUYỂN SINH VÀO LỚP 10 THPT
 SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NĂM 2025 - 2026
 TỈNH NINH BÌNH MÔN: NGỮ VĂN
 Thời gian làm bài: 120 phút (không kể thời gian giao đề)
PHẦN I. ĐỌC HIỂU VĂN BẢN (4,0 điểm)
Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu:
(Tóm tắt cốt truyện: Tân sinh ra trong một gia đình khá giả ở nông thôn. Vì muốn con có cuộc sống sau 
này tốt hơn, cha mẹ đã gửi Tân đến ở nhà ông chú trên Hà Nội ngay từ khi còn nhỏ tuổi. Tân hết sức 
chăm học nên năm mười tám tuổi đã tìm được công việc tốt tại thành phố. Tuy nhiên, gặp thời buổi kinh 
tế khó khăn, Tân bị mất việc làm, phải sống lang thang, vất vưởng mấy tháng trời. Trong tâm trạng chán 
nản, thất vọng lại thêm nỗi buồn cha mất, mẹ một mình trông nom ruộng nương không xuể, Tân quyết 
định về quê và bắt đầu cuộc sống mới của một người dân quê).
Đoạn trích sau tái hiện một ngày lao động của Tân ở quê hương.
[...] Chăm chú vào công việc làm, Tân không để ý đến cảnh vật chung quanh. Chàng cũng không thấy 
mệt nữa, tuy ánh nắng chiếu trên lưng nóng rát, và mồ hôi từng giọt rơi trên trán xuống. Tân chỉ ý đưa cái 
hái cho nhanh nhẹn; mỗi lần bông lúa rụng đọng chạm vào mắt, vào người, mùi lúa chín thơm lại phảng 
phất lần với mùi mồ cát. Mùi thơm đó làm chàng say sưa như men rượu. Tân lại có hết sức gặt, chỉ lo 
không kịp hàng những người thợ khác.
Buổi sáng, khi Tân ngỏ ý muốn cầm hái xuống gặt, bọn thợ hái chẳng mượn mà mấy hôm nay đều 
trông chàng mà cười. Một cô gái trong bọn, cặp mắt đen nhìn nhanh đưa vành khăn vuông che kín đầu, 
nói đùa:
– Ông để mặc chúng tôi, bộ ông thể kia thì gặt được độ ba nén lúa.
Mọi người vui vẻ cười làm Tân cũng cười theo.
[...] Tân tiếc hồi chưa nhớ không ở quê để được sống gần gũi với cảnh vật, cánh đồng, sống bên cạnh 
những người nhà quê chất phác và mộc mạc. Bây giờ chàng mới biết đến trời đất, đến thời tiết, đến sự 
thay đổi của mùa no sang mùa kia. Một cơn gió mát, một cái râm non, đối với chàng đều có ý nghĩa.
Tân không dửng dưng như trước với những cái chung quanh mình. Tâm hồn chàng có liên lạc và rung 
động cùng với những cảnh vật, chẳng có cái cảm giác rằng mình sống.
Buổi chiều, lúa ruộng của Tân đã gặt xong. Cả một cánh đồng chỉ còn trơ cuống rạ. Bọn thợ gặt đã lần 
lượt đi hết cả trở về. Trên con đường vào làng, các lực điền gánh những gánh lúa vàng nặng trĩu.
Mặt trời đã xế phía bên kia đồi. Ở dưới thung lũng, sương mù lạnh trắng xóa lan ra, lẫn với làn khói toả ở 
chung quanh các làng. Cỏ bên đường đi đã ướt. Về phía xa có ngon lúa già ai đốt trên sườn rẫy rơm đỏ 
rực cả trời.
Tân bước nhẹ theo con đường đã thưa người ấy, yên lặng không nói gì, như cùng kính trong cái thời khắc 
của một ngày tàn. Trong cái khắc ấy, Tân như thấy cảnh vật đều có một cảm xúc thâm trầm; như lớp 
sương mù kia là tấm hồn của đất làng hoà hợp với tấm hồn của những người...
(Trích: Những ngày mới, Thạch Lam tuyển tập, NXB Văn học, 2012, tr.189 – 194)
Thực hiện các yêu cầu/Trả lời các câu hỏi:
 DeThiVan.com Bộ 16 Đề thi vào 10 môn Văn Ninh Bình (Có đáp án) - DeThiVan.com
Câu 1 (1,0 điểm). Nêu cơ sở xác định ngôi kể của người kể chuyện trong đoạn trích trên.
Câu 2 (1,0 điểm). Chỉ ra lời nhân vật và lời người kể chuyện qua các câu sau:
Buổi sáng, khi Tân ngỏ ý muốn cầm hái xuống gặt, bọn thợ hái chẳng mượn mà mấy hôm nay đều trông 
chàng mà cười. Một cô gái trong bọn, cặp mắt đen nhìn nhanh đưa vành khăn vuông che kín đầu, nói 
đùa:
– Ông để mặc chúng tôi, bộ ông thể kia thì gặt được độ ba nén lúa.
Mọi người vui vẻ cười làm Tân cũng cười theo.
Câu 3 (1,0 điểm). Việc sử dụng biện pháp tu từ điệp từ trong các câu văn dưới đây có tác dụng gì?
Tân chú ý đưa cái hái cho nhanh nhẹn; mỗi lần bông lúa rụng đọng chạm vào mắt, vào người, mùi lúa 
chín thơm lại phảng phất lần với mùi mồ cát. Mùi thơm đó làm chàng say sưa như men rượu.
Câu 4 (1,0 điểm). Từ tình cảm của Tân khi trở về quê hương, em có suy nghĩ gì về vai trò của quê 
hương đối với cuộc đời của mỗi con người? (Trả lời trong khoảng từ 5 đến 7 dòng).
PHẦN II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1 (2,0 điểm). Hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) phân tích nhân vật Tân trong đoạn trích ở 
phần Đọc hiểu.
Câu 2 (4,0 điểm). Sách là người thầy vĩ đại của con người. Tuy nhiên, xã hội hiện đại với sự phát triển 
của nhiều hình thức giải trí đã khiến cho một bộ phận học sinh ít đọc sách, thậm chí thờ ơ, dửng dưng với 
sách. Hãy viết một bài văn (khoảng 500 chữ) trình bày suy nghĩ của em về vấn đề trên và đề xuất một 
số giải pháp để học sinh thay đổi thói quen đọc sách.
 ------------------HẾT------------------
 Thí sinh không được sử dụng tài liệu. 
 Giám thị không giải thích gì thêm.
 DeThiVan.com Bộ 16 Đề thi vào 10 môn Văn Ninh Bình (Có đáp án) - DeThiVan.com
 HƯỚNG DẪN CHẤM 
Phần Câu Nội dung Điểm
 ĐỌC HIỂU 4,0
 - Ngôi kể thứ 3
 - Cơ sở xác định ngôi kể: Người kể chuyện giấu mình, không trực tiếp tham 
 gia vào mạch kể chuyện.
 Hướng dẫn chấm:
 - Học sinh trả lời như đáp án: 1,0 điểm.
 1 - Thi sinh nêu đúng ngôi kể, không nêu cơ sở và ngược lại: 0.5đ 1,0
 - Học sinh không trả lời hoặc trả lời sai: không cho điểm.
 (Lưu ý: Cơ sở xác định ngôi kể có thể diễn đạt theo nhiều cách, chỉ cần thí sinh 
 hiểu bản chất vẫn cho điểm tối đa.
 VD: Người kể chuyện dấu mình, không xưng tôi; người kể chuyện không xưng 
 tôi và gọi tên nhân vật bằng tên của họ)
 - Lời nhân vật: Ông để mặc chúng tôi, bộ ông thể kia thì gặt được độ ba nẹn 
 lúa.
 - Lời người kể chuyện:
 + Buổi sáng, khi Tân ngỏ ý muốn cầm hái xuống gặt, bọn thợ hái chàng mượn 
 đã mấy hôm nay đều trông chàng mà cười. Một cô gái trong bọn, cặp mắt đen 
 nhí nhảnh dưới vành khăn vuông che kín đầu, nói đùa:
 I 2 + Mọi người vui vẻ cười làm Tân cũng cười theo 1,0
 Hướng dẫn chấm:
 - Học sinh trả lời như đáp án: 1,0 điểm.
 - Thí sinh chỉ ra đúng một trong hai lời (lời người kể chuyện hoặc lời nhân 
 vật): 0.5đ
 - Học sinh trả lời được 1 ý trong lời người kể chuyện: 0,25 điểm.
 - Học sinh không trả lời hoặc trả lời sai: không cho điểm.
 - Biện pháp tu từ Điệp từ: mùi, vào 
 - Tác dụng của BPTT: 
 + Tạo nhịp điệu, tăng sức gợi hình, gợi cảm cho sự diễn đạt; tính sinh động, 
 hấp dẫn cho lời thơ.
 + Nhấn mạnh các loại mùi đặc trựng của làng quê trong mùa gặt. (Sự rung cảm 
 tinh tế của Tân ) 1,0
 3
 + Thể hiện tình cảm gắn bó tha thiết của Tân với quê hương.
 Hướng dẫn chấm: 
 - Học sinh trả lời như hướng dẫn chấm: 1,0 điểm.
 - Thí sinh nêu đầy đủ tác dụng, không chỉ ra minh chứng: 0,75 điểm.
 - Thí sinh trả lời đúng 1 ý tác dụng: 0,25 điểm.
 - Học sinh không trả lời hoặc trả lời sai: không cho điểm.
 DeThiVan.com Bộ 16 Đề thi vào 10 môn Văn Ninh Bình (Có đáp án) - DeThiVan.com
 - Tình cảm của nhân vật Tân khi trở về quê hương: Yêu quê hương, gắn bó tha 
 thiết với quê hương; sung sướng, hạnh phúc khi được hòa mình vào cuộc sống 
 của người dân quê.
 - Vai trò của quê hương đối với cuộc đời mỗi người:
 + Quê hương là cội nguồn, nơi con người sinh ra, lớn lên.
 4 + Quê hương thường gắn với gia đình, bạn bè, người thân; là động lực tinh thần 
 cho con người mỗi khi vấp ngã, thất bại.
 + Quê hương là nơi lưu giữ và truyền lại những giá trị vật chất, tinh thần cho 1,0
 mỗi người
 Hướng dẫn chấm: 
 - Học sinh trả lời như đáp án hoặc diễn đạt tương đương: 1,0 điểm.
 - Thí sinh nêu được tình cảm của nhân vật Tân: 0.5đ.
 - Thí sinh nêu được vai trò của quê hương: 0.5đ
 - Học sinh không trả lời hoặc trả lời sai, không phù hợp: không cho điểm.
 (Đây là câu hỏi mở, thí sinh có thể thể hiện quan điểm cá nhân đảm bảo thuyết 
 phục, phù hợp đạo đức và pháp luật) 
 VIẾT 6,0
 Hãy viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) phân tích nhân vật Tân trong phần 
 2,0
 Đọc hiểu. 
 a. Xác định được yêu cầu về hình thức, dung lượng của đoạn văn
 - Hình thức: Một đoạn văn, thí sinh có thể trình bày đoạn văn theo cách diễn 
 dịch, quy nạp, phối hợp, song song.
 - Dung lượng: Khoảng 200 chữ. 0,25
 Hướng dẫn chấm: 
 - Thí sinh đáp ứng được yêu cầu: 0,25đ
 b. Xác định đúng yêu cầu nghị luận: Phân tích nhân vật Tân trong đoạn trích.
 Hướng dẫn chấm: 0,25
 - Thí sinh đáp ứng được yêu cầu: 0,25đ
II 1 c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận
 Thí sinh có thể lựa chọn các thao tác lập luận phù hợp để triển khai vấn đề nghị 
 luận trong trích.
 Có thể theo hướng sau:
 * Giới thiệu nhân vật
 * Phân tích nhân vật: Nhân vật hiện lên qua một số phương diện:
 0,5
 - Hành động: Tân chú ý đưa cái hái cho nhanh nhẹn; cố hết sức gặt chỉ lo không 
 theo kịp hàng những người thợ khác.
 - Cảm xúc, tâm trạng: Thạch Lam chủ yếu khắc họa cảm xúc, cảm giác của Tân 
 trong buổi lao động:
 + Mỗi lần bông lúa rung động chạm vào mặt mùi thơm đó làm chàng say 
 xưa như men rượu.
 DeThiVan.com Bộ 16 Đề thi vào 10 môn Văn Ninh Bình (Có đáp án) - DeThiVan.com
 + Chàng thích sống bên cạnh những người nhà quê, chất phác và mộc mạc 
 cùng với những cảnh vật, chàng có cái cảm giác rằng mình sống.
 + Tân như thấy cảnh vật đều có một tâm hồn, mà lớp sương mù kia là tâm hồn 
 của đất mầu đã nuôi hạt thóc cần cho sự sống của loài người (Trong quá trình 
 viết thí sinh lựa chọn, phân tích được một số chi tiết tiêu biểu tác giả sử dụng 
 để tái hiện nhân vật).
 - Đánh giá nhân vật và nghệ thuật khắc họa nhân vật:
 + Nhân vật Tân trong đoạn trích là người yêu lao động, gắn bó tha thiết với quê 
 hương, có tâm hồn nhạy cảm, tinh tế. Chỉ khi được hòa mình vào cuộc sống 
 con người và cảnh sắc của nông thôn, Tân mới cảm nhận được hết ý nghĩa của 
 cuộc sống, có được sự bình yên trong tâm hồn.
 + Nghệ thuật - Để khắc họa thành công nhân vật, nhà văn sử dụng ngôi kể thứ 
 3, giọng văn nhẹ nhàng giàu chất trữ tình, nhân vật được thể hiện chủ yếu qua 
 cảm xúc, tâm trạng
 d. Viết đoạn văn đảm bảo các yêu cầu sau:
 - Lựa chọn được các thao tác lập luận, phương thức biểu đạt phù hợp để triển 
 khai vấn đề nghị luận.
 - Trình bày rõ quan điểm và hệ thống các ý. 0,5
 - Lập luận chặt chẽ, thuyết phục: lí lẽ xác đáng; bằng chứng tiêu biểu, phù hợp; 
 kết hợp nhuần nhuyễn giữa lí lẽ và dẫn chứng.
 - Sắp xếp được hệ thống ý hợp lí theo đặc điểm bố cục của kiểu đoạn văn.
 đ. Diễn đạt
 Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết câu trong đoạn 0,25
 văn.
 e. Sáng tạo
 Có cách diễn đạt mới mẻ; thể hiện cảm xúc, suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị 
 luận
 0,25
 Hướng dẫn chấm: 
 Giám khảo đánh giá tổng thể bài viết của thí sinh dựa trên những gợi ý ở trên 
 một cách linh hoạt để cân nhắc cho điểm.
 Hướng dẫn chấm toàn diện:
 - Thí sinh đáp ứng tốt các yêu cầu, biết hình thành luận điểm, phân tích đầy 
 đủ, sâu sắc: 1,75-2.0đ
 - Thí sinh có thể chưa biết hình thành luận điểm nhưng khi phân tích biết nhấn 
 mạnh vào vấn đề nghị luận, phân tích tương đối sâu sắc: 1,25-1,5đ
 - Thí sinh phân tích chưa rõ các nội dung, sơ sài, diễn đạt kém: 0,25-0,5đ
 - Thí sinh lạc đề, không phân tích: không cho điểm.
 Sách là người thầy vĩ đại của con người. Tuy nhiên, xã hội hiện đại với 
2 sự phát triển của nhiều hình thức, phương tiện giải trí đã khiến cho một 4,0
 bộ phận học sinh ít đọc sách, mắt dần thói quen đọc sách. Hãy viết một bài 
 DeThiVan.com Bộ 16 Đề thi vào 10 môn Văn Ninh Bình (Có đáp án) - DeThiVan.com
 văn (khoảng 500 chữ) trình bày suy nghĩ của em về vấp đề trên và đề xuất 
 một số giải pháp để học sinh có thói quen đọc sách.
 a. Xác định được yêu cầu của kiểu bài: Nghị luận xã hội; Bài viết đảm bảo bố 
 cục đầy đủ gồm có 3 phần: Mở bài, Thân bài, Kết bài; Mở bài giới thiệu vấn đề 0,25
 nghị luận, thân bài triển khai vấn đề nghị luận, kết bài kết thúc được vấn đề.
 b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Suy nghĩ về vấn đề HS ít đọc sách, mất 
 dần thói quen đọc sách và đề xuất giải pháp để học sinh có thói quen đọc sách. 0,5
 - Thí sinh xác định đúng vấn đề cần nghị luận: 0,5đ
 c. Đề xuất được hệ thống ý phù hợp để làm rõ vấn đề của bài viết
 - Xác định được các ý chính của bài viết.
 - Sắp xếp được các ý theo bố cục hợp lí 3 phần của bài văn nghị luận:
 * Giới thiệu vấn đề nghị luận
 * Triển khai vấn đề nghị luận
 HS có thể triển khai vấn đề theo nhiều cách khác nhau, có thể đưa ra nhiều 
 góc nhìn, nhiều cách giải quyết vấn đề không giống như đáp án tuy nhiên cần 
 có sức thuyết phục, không vi phạm các chuẩn mực đạo đức và pháp luật, đảm 
 bảo được các ý cơ bản sau:
 - Giải thích: Đọc sách là quá trình học sinh tiếp nhận thông tin, kiến thức, tư 
 tưởng, tình cảm được thể hiện qua ngôn ngữ viết.
 - Phân tích vấn đề:
 + Thực trạng: Thực tế cho thấy tình trạng HS ít đọc sách rất phổ biến trong xã 
 hội, phần lớn thời gian rảnh rỗi của các em dành cho việc giải trí từ các thiết 
 bị công nghệ thông minh như điện thoại, ti vi, máy tính
 + Nguyên nhân: Sự phát triển của các hình thức, phương tiện giải trí hiện đại 
 có sức lôi cuốn, hấp dẫn hơn so với sách; Bố mẹ nuông chiều để con tiếp xúc 
 0,5
 với các thiết bị điện tử ngay từ sớm, không rèn luyện thói quen đọc sách cho 
 con ngay từ khi còn nhỏ tuổi; nhà trường chưa có nhiều hình thức, hoạt động 
 để khuyến khích học sinh đọc sách
 + Hậu quả: Nếu không đọc sách học sinh sẽ mất đi một kênh quan trọng để 
 tiếp cận tri thức, phát triển tư duy và hoàn thiện nhân cách; làm giảm khả 
 năng ngôn ngữ; sống hời hợt, thiếu chiều sâu; thông tin nhanh có thể không 
 được kiểm chứng độ chính xác dẫn đến học sinh có thể có những suy nghĩ và 
 lối sống lệch lạc
 - Đề xuất một số giải pháp giải quyết vấn đề:
 + Đối với học sinh: Nhận thức được tầm quan trọng của việc đọc sách, từ đó 
 hình thành thói quen tự giác đọc sách mỗi ngày.; tham gia các câu lạc bộ đọc 
 0.5
 sách. Các nhóm đọc sách trực tuyến để đánh thức niềm đam mê sách; phân bổ 
 thời gian hợp lí sử dụng các phương tiện giải trí hiện đại để dành thời gian 
 cho việc đọc sách
 DeThiVan.com Bộ 16 Đề thi vào 10 môn Văn Ninh Bình (Có đáp án) - DeThiVan.com
 + Đối với gia đình: Cha mẹ khuyến khích con đọc sách ngay từ nhỏ để tạo 
 niềm đam mê sách cho con; trở thành tấm gương đọc sách ngay trong không 
 gian gia đình; giúp con hiểu được giá trị của sách, dạy con lựa chọn, đọc sách 
 đúng cách; hạn chế thời gian sử dụng thiết bị công nghệ cao
 + Đối với nhà trường: Tổ chức các buổi tuyên truyền về tác dụng của sách: Tổ 
 chức hoạt động như giới thiệu sách mới, sách hay cho học sinh, tham gia cuộc 
 thi “Sứ giả văn hóa đọc” ; Xây dựng thư viện lớp, thư viện trường để khuyến 
 thích học sinh đọc sách; lồng ghép đọc sách vào chương trình học 
 (Thí sinh kết hợp nêu bằng chứng thực tế để tăng sức thuyết phục cho bài 
 viết)
 - Ý kiến trái chiều, phản bác.
 - Liên hệ bản thân.
 * Kết thúc vấn đề: Khẳng định lại ý nghĩa vấn đề nghị luận.
 d. Viết bài văn đảm bảo các yêu cầu sau:
 - Triển khai được ít nhất 3 luận điểm để làm sáng tỏ quan điểm cá nhân. 
 - Lựa chọn được các thao tác lập luận, phương thức biểu đạt phù hợp để triển 
 khai vấn đề nghị luận.
 1,5
 - Lập luận chặt chẽ, thuyết phục: lí lẽ, bằng chứng tiêu biểu, kết hợp chặt chẽ 
 giữa lí lẽ và bằng chứng.
 Lưu ý: HS có thể bày tỏ suy nghĩ, quan điểm riêng nhưng phải phù hợp với 
 chuẩn mực đạo đức và pháp luật.
 đ. Diễn đạt
 Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết câu và liên kết 
 0,25
 đoạn văn.
 Hướng dẫn chấm: Thí sinh mắc từ 5 lỗi chính tả trở lên không cho điểm.
 e. Sáng tạo
 Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ.
 Hướng dẫn chấm: 0,5
 Giám khảo đánh giá tổng thể bài viết của thí sinh dựa trên những gợi ý ở trên 
 một cách linh hoạt để cân nhắc cho điểm.
 Hướng dẫn chấm toàn diện:
 - Xác định đúng vấn đề nghị luận, đáp ứng tốt các yêu cầu của hướng dẫn 
 chấm; đưa ra được ý kiến trái chiều và phản bác thuyết phục; diễn đạt mới 
 mẻ: 3,75-4,0đ
 - Xác định đúng vấn đề nghị luận; đáp ứng tương đối tốt các yêu cầu của 
 hướng dẫn chấm; diễn đạt lưu loát: 3,25-3,5đ
 - Xác định đúng vấn đề nghị luận; đáp ứng khoảng ½ yêu cầu của hướng dẫn 
 chấm; diễn đạt vụng về; sắp xếp ý chưa hợp lí: 0.75-2,0đ
 - Bài viết lan man, chưa đúng trọng tâm: 0,25-0.5đ
 - Không làm bài, làm lạc đề: không cho điểm.
 DeThiVan.com Bộ 16 Đề thi vào 10 môn Văn Ninh Bình (Có đáp án) - DeThiVan.com
 ĐIỂM TOÀN BÀI I+II 10,0
Lưu ý chung: 
- Đề thi được ra theo hướng mở, giám khảo cần vạn dụng linh hoạt hướng dẫn chấm để cho điểm bài làm 
của thí sinh
- Điểm toàn bài cho lẻ đến 0,25 điểm, không làm tròn điểm. 
 ---------------------- HẾT ---------------------
 DeThiVan.com Bộ 16 Đề thi vào 10 môn Văn Ninh Bình (Có đáp án) - DeThiVan.com
 ĐỀ SỐ 2
 ĐỀ THI TUYỂN SINH VÀO LỚP 10 THPT
 SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NĂM 2024 - 2025
 TỈNH NINH BÌNH MÔN: NGỮ VĂN
 Thời gian làm bài: 120 phút (không kể thời gian giao đề)
PHẦN I. ĐỌC - HIỂU VĂN BẢN (3,0 điểm)
Đọc đoạn trích dưới đây và thực hiện các yêu cầu sau:
Một trong những khác biệt giữa người thành công và người thất bại là ở thái độ tiếp nhận khác nhau đối 
với những khó khăn của cuộc sống. Người thất bại thường né tránh, hoặc cam chịu các trở ngại còn 
người thành công luôn đi tìm giải pháp, ngay cả khi phải chịu đựng khổ ải bởi họ tin rằng họ sẽ vượt 
qua.
Rất nhiều người cứ mãi nói về những khó khăn của mình như thể trường hợp của mình là duy nhất, và 
hình như họ cảm thấy cuộc sống của người khác dễ dàng hơn. Trong suy nghĩ của họ, có vẻ như phàn 
nàn sẽ trút bớt trở ngại của mình lên người khác và chính điều đó cũng thể hiện rằng họ chưa nhận ra 
khó khăn là điều vốn có của cuộc sống. Ngay khi chúng ta chấp nhận sự thực: Cuộc sống vốn khắc nghiệt 
thì chúng ta cũng bắt đầu hiểu rằng, mỗi trở ngại cũng chính là một cơ hội. Thay vì để khó khăn đánh 
bại, chúng ta hãy đón nhận chúng như một cơ hội để rèn luyện bản lĩnh của chính mình.
(Trích: Hạt giống tâm hồn, Nhiều tác giả, NXB Hồng Đức, 2018, tr. 62-63).
Câu 1. Nêu phương thức biểu đạt chính của đoạn trích trên. 
Câu 2. Theo đoạn trích, thái độ tiếp nhận khác nhau đối với những khó khăn của cuộc sống giữa người 
thành công và người thất bại là gì? 
Câu 3. Anh/chị hiểu như thế nào về quan niệm: mỗi trở ngại cũng chính là một cơ hội? 
Câu 4. Hãy nêu một thông điệp có ý nghĩa đối với anh/chị sau khi đọc đoạn văn bản trên.
PHẦN II. TẠO LẬP VĂN BẢN (7,0 điểm)
Câu 1. (2,0 điểm) Từ ngữ liệu tại phần I, anh/chị hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy 
nghĩ về tầm quan trọng của những thử thách trong cuộc sống mỗi người.
Câu 2. (5,0 điểm) Cảm nhận về nhân vật ông Sáu trong đoạn trích sau:
[...] Tôi hãy còn nhớ buổi chiều hôm đó - buổi chiều sau một ngày mưa rừng, giọt mưa còn đọng trên lá, 
rừng sáng lấp lánh. Đang ngồi làm việc dưới tấm ni lông nóc, tôi bỗng nghe tiếng kêu. Từ con đường 
mòn chạy lẫn trong rừng sâu, anh hớt hải chạy về, tay cầm khúc ngà đưa lên khoe với tôi. Mặt anh hớn 
hở như một đứa trẻ được quà.
Sau đó anh lấy vỏ đạn hai mươi li của Mỹ, đập mỏng làm thành một cây cưa nhỏ, cưa khúc ngà thành 
từng miếng nhỏ. Những lúc rỗi, anh cưa từng chiếc răng lược, thận trọng, tỉ mỉ và cố công như người thợ 
bạc. Chẳng hiểu sao tôi thích ngồi nhìn anh làm và cảm thấy vui vui khi thấy bụi ngà rơi mỗi lúc một 
nhiều. Một ngày, anh cưa được một vài răng. Không bao lâu sau, cây lược được hoàn thành. Cây lược 
dài độ hơn một tấc, bề ngang độ ba phân rưỡi, cây lược cho con gái, cây lược dùng để chải mái tóc dài, 
cây lược chỉ có một hàng răng thưa. Trên sống lưng lược có khắc một hàng chữ nhỏ mà anh đã gò lưng, 
tẩn mẩn khắc từng nét: "Yêu nhớ tặng Thu con của ba". Cây lược ngà ấy chưa chải được mái tóc của 
con, nhưng nó như gỡ rối được phần nào tâm trạng của anh. Những đêm nhớ con, anh ít nhớ đến nỗi hối 
 DeThiVan.com

File đính kèm:

  • docxbo_16_de_thi_vao_10_mon_van_ninh_binh_co_dap_an.docx